Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 05/08/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Người & đất quê hương

Vài suy nghĩ về âm nhạc của đồng bào pakô Quảng Trị

18/11/2013 lúc 16:55






V





ào những ngày hè năm 2006, tôi được vào thực tế ở thôn Ro Ró, thuộc xã A Vao, huyện Đakrông. Đường vào thôn khoảng hơn hai giờ đồng hồ đi bộ mệt đến bở hơi tai, hai chân nặng trịch như không thể đứng được, tuy nhiên tôi quên hết mệt nhọc sau khi được tiếp xúc với mọi người nơi đây. Bằng một tình cảm đầy chân thành và mộc mạc của các Bố, các Mẹ, anh em bạn bè làm cho tôi cứ nghĩ là họ đã là người thân thiết lâu lắm rồi. Chỉ một tuần, tôi may mắn được sống cùng đồng bào, được các cụ, các anh các chị kể chuyện về cuộc sống sinh hoạt văn hoá dân gian ngày xưa và một số sinh hoạt còn được duy trì đến ngày nay. Tôi vô cùng xúc động khi được tận mắt nhìn thấy những chiếc Cồng, Chiêng, Thanh la, Trống còn rất cổ và thô sơ, được nghe những cụ già hát lên những âm điệu quen thuộc của đồng bào mình. Qua sự tiếp xúc vào trao đổi bản thân tôi nhận thấy một số đặc điểm về âm nhạc của họ mà trước đây tôi còn mơ hồ...

Phác thảo sử ký rượu quý Kim Long

18/11/2013 lúc 16:58






N





ếu vào đời Hán bên Trung Quốc, tại tỉnh Cam Túc có một quận mà nguồn nước chảy qua đấy mang hơi vị như rượu nên quận này thành danh là quận Tửu Tuyền (suối rượu), để cho tài thơ của vị tiên tửu Lý Bạch cảm khái luận rằng: “Địa nhược bất ái tửu, địa ưng vô Tửu Tuyền” (Nếu đất không thích rượu, thì đất đã không có quận Tửu Tuyền), thì ở Quảng Trị từ xa xưa rồi đã có một làng trứ danh nhờ có nguồn nước quý chiết xuất ra được rượu ngon, đó là làng Kim Long, xã Hải Quế, huyện Hải Lăng.
“Rượu Kim Long, Hải Lăng ngon hơn, có thuế”, sách “Đại Nam nhất thống chí”, quyển thứ 8, mục “Thổ sản” đã trang trọng đưa đẩy tiếng thơm và vị trí vang bóng của rượu Kim Long dưới thời phong kiến như thế đó. Nhưng sự đời, hoa sen nào không phải nở trong bùn, vinh quang nào không đồng hành cùng khổ luỵ, danh thơm nào không nhuốm phong trần, rượu Kim Long cùng những chủ nhân của nó đã phải “lại tìm những lối đoạn trường mà đi” dưới thời thực dân Pháp xâm lược. Ký ức tủi hận của những ông già Kim Long từng chống chèo qua thời đau thương ấy hẳn còn chưa quên những tình huống thực dân bắt rượu hiểm nghèo xảy ra...

108 ngày bên Cửa Việt

17/04/2014 lúc 14:46






… N





hiệm vụ mới của D47 là cùng hai tiểu đoàn khác của trung đoàn 38 đánh căn cứ 31. Ba tiểu đoàn trưởng gặp nhau, xét thấy tiểu đoàn 47 vừa qua đã rất vất vả nhưng rất kiên cường bám mặt trận Cửa Việt, nên hai thủ trưởng tiểu đoàn bạn nhất trí dành cho D47 mũi thứ yếu đánh từ phía Tây Bắc lên.
Trần Văn Thà xin cảm ơn.
Nhưng anh rất lo. Lâu nay đánh du kích là chính, chưa hề đánh công kiên bao giờ. Ví dụ đánh công kiên là phải có thủ pháo để dẹp dây thép gai mở đường cho bộ đội tiến vào.
Suy nghĩ mãi, từ chỗ đóng quân ở Nhĩ Thượng, Trần Văn Thà quyết định, anh sẽ cùng các đại đội trưởng theo trinh sát đến tận căn cứ quan sát thật kỹ rồi cùng bàn với nhau để lên kế hoạch. Với ý định ấy, Trần Văn Thà quyết định ngay đêm ấy trinh sát dẫn đường các anh đi điều nghiên thực trạng trận địa, nhất là mũi Tây Bắc mà tiểu đoàn đã được phân công.
Cắn cứ 31 đã ở trước mắt các anh. Nhờ có pháo sáng cảnh giới của địch, Trần Văn Thà và ba đại đội trưởng nhìn rõ hàng rào bùng nhùng bên ngoài. Sau lớp hàng rào bùng nhùng là 5 hàng rào dây thép gai. Rõ ràng muốn đánh được vào căn cứ, nhất thiết phải có bộc phá giải quyết những hàng rào dây thép gai này.
Thực địa rồi, ba tiểu đoàn nhất trí với nhau tối 28 tháng chạp các mũi sẽ tiệm cận, rồi từng bước tiến nhập. Giờ G quy định nổ súng là 1 giờ sáng ngày 29. Không mũi nào được trái giờ quy định ấy. Kế hoạch tác chiến phải báo cáo lên bộ tư lệnh mặt trận 20. Xem xét xong bộ tư lệnh quyết định tấn công lùi vào ngày 30. Và 3 giờ chiều ngày 20, bỗng tiểu đoàn nhận lệnh mới, đánh căn cứ 31 để trung đoàn 38 lo. Tiểu đoàn 47 đánh bốt Bến Ngự ngay bên đầu cầu Bến Ngự.
Ngay lập tức, tiểu đoàn 47 chuyển quân vào Gio Cam. Và việc đánh bốt Bến Ngự giao cho đại đội 1 do Lê Hữu Trác làm đại đội trưởng.
Trần Văn Thà và Lê Hữu Trác quay về đi thực địa bốt Bến Ngự. Bốt Bến Ngự chỉ có một trung đội địch đóng án ngữ cầu. Phải diệt điểm chốt án ngữ này các cuộc hành quân khu vực này mới thuận lợi. Bốt Bến Ngự cũng được rào dậu bằng dây thép gai, nhưng khá mỏng manh. Thà và Trác quyết định dùng DKZ và cối 82 bắn vào bốt giữa ban ngày ban mặt.
4 giờ chiều ngày 28, đại đội 1 của Lê Hữu Trác tiến nhập cách bốt chỉ chừng 400 mét, vẫn giữ được bí mật. Đúng giờ ấy cối 82 và DKZ bắn dồn dập vào bốt mấy chục quả liền. Địch trong bốt nháo nhác chạy, Lê Hữu Trác ra lệnh xung phong, tràn lên đánh thẳng vào bốt. Đến 5 giờ rưỡi ta chiếm bốt Bến Ngự hoàn toàn. 8 tên địch bị diệt.
Trần Văn Thà ra lệnh đại đội 1 để lại một tiểu đội giữ bốt, còn tất cả tiến lên bao vây chi khu quân sự Gio Linh. Cuộc hành quân bí mật. Đại đội một vây quanh chi khu quân sự, mà địch trong chi khu không hề hay biết.
Trần Văn Thà cùng đại đội 1 đang tính toán sẽ giải quyết chi khu này bằng cách nào đây. Đúng lúc đó Trần Văn Thà được tin tiểu đoàn 5 thay tiểu đoàn 47 đóng ở Lâm Xuân Đông, đã bị quân Mỹ ở Cửa Việt tấn công đánh bật ra ngoài. Trần Văn Thà được lệnh phải đánh bật Mỹ khỏi Lâm Xuân Đông.
Một mặt Thà triển khai ngay tiểu đoàn về Mai Xá, Nhĩ Thượng, Nhĩ Hạ, Kỳ Trúc, Kỳ Lân, một đại đội bám chặt Lâm Xuân Đông để tính chuyện với bọn Mỹ ở đây, một mặt đại đội 1 vẫn bao vây chi khu quân sự Gio Linh. Sáng hôm sau địch trong chi khu Gio Linh cho lính hành quân ra bên ngoài, tưởng êm đẹp như mọi ngày, không ngờ chúng đã bị bao vây. Khi địch đã vào trong tầm ngắm, Lê Hữu Trác ra lệnh nổ súng, 5 tên chết, 8 tên bị thương ngay tại ngoài hàng rào dây thép gai.
Lê Hữu Trác viết thư vào nói: Chi khu các anh đã bị quân giải phóng bao vây chặt. Nếu các anh muốn ra nhận xác chết và thương binh của các anh thì hãy cầm cờ trắng và hoàn toàn không có vũ khí trong tay.
Chỉ huy chi khu muốn ra lấy xác đồng đội, nhưng phải mang cờ trắng như một cuộc đầu hàng thì nhục nhã quá, sau đó làm sao chỉ huy được binh lính nữa. Chỉ huy không chịu. Nhưng anh em binh lính đòi hỏi phải có tình với đồng đội. Bị thúc ép với số đông, đồng thời sợ giải phóng quân đánh chiếm chi khu, mất chi khu còn mất mặt hơn. Cuối cùng chỉ huy phải đồng ý cầm cờ trắng ra lấy xác, lấy thương binh đồng đội. Nói một cách khác, chi khu quân sự Gio Linh đã đầu hàng. Trong suốt ba ngày bao vây, Lê Hữu Trác bắt chỉ huy chi khu Gio Linh, hãy bằng bất cứ lý do gì đó, không cho trực thăng tới quấy rối, cũng không cho pháo bắn quanh đồn. Chỉ huy đã chấp hành răm rắp. Rõ ràng chi khu quân sự Gio Linh đã nằm trong tay đại đội 1 của Lê Hữu Trác.
Tiểu đoàn 47 chưa chạm trán địch, tiếp tục triển khai cho hoàn chỉnh thế trận của mình: Đại đội 1 ở Mai Xá, đại đội 2 ở Vinh Quang Thượng, Vinh Quang Hạ; ban chỉ huy đóng ở xóm Đồng, Vinh Quang Hạ.
Tiểu đoàn nhận được điện của bộ tư lệnh, nói rằng: “Thư của thượng tướng Văn Tiến Dũng yêu cầu phải sử dụng các lực lượng chặn cho bằng được tàu địch tiếp tế cho Đông Hà”.
Lúc này tiểu đoàn 5 đã bàn giao trận địa Cửa Việt cho tiểu đoàn 47, tiểu đoàn 5 rút ra sau nhận nhiệm vụ mới....

Nhật ký lửa

03/05/2014 lúc 09:13

Ngày 25.1.1971
 
30 Tết. Tết ở chiến trường đối với cánh lính thông tin thật là buồn. Suốt ngày theo trinh sát của sư đoàn. Luôn ở trong hoàn cảnh đơn độc, nguy hiểm. Tiểu đoàn 18 thông tin của mình vừa từ Bắc vào chiến trường Quảng Trị. Sư 308 từ lâu là niềm kiêu hãnh của bọn mình dù ở bất kỳ chiến trường nào. Tổ thông tin hầu như vẫn nguyên vẹn từ hồi 1968, chốt trên điểm cao Ho Lé, làng Vây - Khe Sanh đến giờ. Không sứt mẻ, không mất thằng nào, tổ trưởng Thế, người Thái Bình. Lý quê đồng hương Phú Thọ với mình. Buổi sáng, mình và lý đi lấy gạo. Thế ở nhà chờ cánh trinh sát công binh đi mở đường. Mấy cha hậu cần cẩn thận quá, kho lán xa cả mấy cây số. Mình đếm được mười mấy cái dốc. Còng lưng cõng ba lô gạo. Leo dốc mệt đứt hơi. Cả tuần nay ăn lương khô, bụng cứ sắt lại. Đến đỉnh dốc thứ bảy, mình không leo được nữa, đặt phịch ba lô xuống gốc cây cạnh đường, nằm thở dốc. Lý hỏi: "Đói à?" Mình chẳng buồn trả lời, gật đầu. Thấy Lý thọc tay vào ba lô, vốc một nắm gạo ăn ngon lành. Mình cũng bắt chước làm theo. Ngon quá. Bột gạo tan trong miệng ngọt như sữa. Một vốc nữa. Rồi lại vốc nữa. Cái bụng hình như bớt xì xèo. Lý ngăn mình: "Ăn ít thôi. Tào Tháo nó đuổi thì khốn nạn. Tết đến nơi rồi!".

Ngôi nhà hạnh phúc

22/01/2014 lúc 15:25






T





ôi nói không ngoa rằng, ngôi nhà số 185 đường Hàm Nghi, §«ng Hµ - Trụ sở của Hội Từ Thiện Qu¶ng TrÞ là ngôi nhà Hạnh Phúc. Ở nơi đây, sau hơn mười tám năm kể từ ngày thành lập (06/123/1990) đến nay đã trở thành địa chỉ tin cậy, là tổ ấm của người nghèo, người khuyết tật và những nạn nhân chiến tranh.
Tính đến nay có hơn chục ngµn hộ gia đình được Hội cứu trợ  vượt qua khó khăn đói khổ do hạn hán bão lụt gây ra. Hàng ngàn hộ có người khuyết tật, neo đơn bệnh hoạn được Hội cho vay vốn, sản xuất kinh doanh, chăn nuôi gia súc gia cầm, có thêm thu nhập để chạy chữa cho người bệnh, phục hồi chức năng cho người khuyết tật. Hàng trăm người khuyết tật trong toàn tỉnh đã được Hội tổ chức thăm khám, tập luyện, phục hồi chức năng, nhiều người đã trở về hòa nhập với cộng đồng. Nhiều Trung tâm phục hồi chức năng được mở ra ở một số huyện thị, nhiều trường học cho con em người nghèo ở vùng khó được xây dựng; Mở các lớp tập huấn, đào tạo cộng tác viên về làm từ thiện, phục hồi chức năng…
Làm được những công việc đó chẳng dễ dàng chút nào nếu không có người đứng ®Çu ®Çytâm huyết, có tấm lòng nhân ái bao la, lúc nào cũng trở trăn, lo toan cho người khác. Ông Lê Văn Hoan - Chủ tịch Hội Từ thiện Quảng Trị là một người như thế. Ông là cán bộ lãnh đạo có uy tín của tỉnh. Nghỉ hưu, nhưng ông không chịu “về”. Ông cùng  một số đồng đội và bạn bè chí cốt đứng ra quyên góp, vận động lập quỹ và xin thành lập Hội Từ Thiện với mong muốn từ tâm góp phần giúp đỡ những người nghèo khổ, tàn tật, những nạn nhân chiến tranh, những cảnh đời bất hạnh và thân nhân các gia đình thương binh liệt sĩ gÆp khã kh¨n.
Hôm chúng tôi đến th¨m, ông đang bận rộn với các chương trình dự án hoạt động của Hội nhưng vẫn nhiệt tình tiếp chúng tôi. ¤ng th«ng b¸o víi chóng t«i nh÷ng c«ng viÖc ®· lµm cña Héi thùc sù cã ý nghÜa vµ cã cã hiÖu qu¶ thiÕt thùc nhê vµo t«n chØ, môc ®Ých hîp lßng d©n, ®óng chñ tr­¬ng, chÝnh s¸ch cña Nhµ n­íc. Với tiêu chí là một tổ chức nhân đạo xã hội, quy tụ những người hoạt động vì mục đích từ thiện. Tới tổ chức và hoạt động tự nguyện, tự quản, tự lo kinh phí, tự chịu trách nhiệm trước Pháp luật và chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hội lấy mục tiêu tôn chỉ hoạt động là khơi dËy và phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Tương thân tương ái”, “Lá lành đùm lá rách”… ở mọi nơi để tạo lập qũy và hoạt động cứu trợ cho những đối tượng bất hạnh, giúp họ vượt qua khó khăn, xóa đi mặc cảm về số phận, tạo cơ hội hòa nhập cộng đồng. Vì thế đã thật sự giúp ích cho những ng­ời bất hạnh có cuộc sống tốt. Cũng qua kết quả đạt đ­ợc của Hội mà nhiều tổ chức từ thiện trong và ngoài n­ớc, nhiều nhà hảo tâm đã biết đến. Ví nh­ các tổ chức từ thiện phi chính phủ (N.G.O) và tổ chức Caritas, Schmitz của Cộng hòa liên bang Đức, Liliane Fond (Hà Lan), Tổ chức Từ thiện Giao Điểm Americares (Mỹ) đã giúp nhiều tỷ đồng để cứu trợ khẩn cấp khi đồng bào gặp thiên tai, bão lụt, hạn hán. Lập trại chăn nuôi gia súc gia cầm để lấy tiền lãi nuôi d­ỡng và chữa bệnh cho các bệnh nhân. Bà con Việt kiều ở nhiều n­ớc cũng gửi tiền về cho Hội Từ thiện. Rồi các Hội đồng h­ơng, các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh nh­ bà Cao Ngọc Nga, D­ơng Kim Bằng Nh­ Lan, Thích Trí Thuận, Lê Thế Thọ… nhiều lần về thăm và gửi tiền quà, về giúp....

Tết ở làng quê

22/01/2014 lúc 15:20






C





âu nói vui như TẾT có lẽ đúng hơn với làng quê, nơi quanh năm đầu tắt mặt tối với ruộng đồng nương rấy, ít có ngày thảnh thơi sum vầy bên gia đình và họ hàng làng nước.
Quê tôi, một ngôi làng Việt nghèo với đồng lúa bờ tre, nương khoai bãi sắn, người dân chất phác hiền hoà từ cái ăn, cái mặc đến lời nói dáng đi, thân thương như lời mẹ.
Tôi lớn lên trong ngôi làng ấy để lại dấu ấn sâu đằm tâm tưởng, nhất là ngày hội tuổi thơ qua ba ngày Tết. Ôi! Sao mà thân thương quá đỗi. Làng quê, ngày Tết như bức tranh gà sặc sỡ sắc màu trong tranh làng Hồ dân dã mà không hề quê kiểng.
Tôi còn nhớ như in, hàng năm khi ngọn gió heo may lim tắt, đồng lúa vừa mới cấy xong chưa bén bùn, le te vàng nhạt thì ngọn nêu được dựng lên đầu làng báo hiệu làng đang vào hội.
Tiếng trông sân đình đổ hồi rồi tiếng chiêng ngân vang xa thẳm dội vào thinh không giục giã hối thúc lòng người trở về nguồn cội mà lo sắm sanh lễ vật dâng tiến ông bà trong ba ngày Tết.
Thềm nhà ai cũng sáng lên bởi được rắc cát trắng tinh tươm gợi lên nét tươi tỉnh ngõ nhà quang đãng hơn khi cỏ xanh đã xới đi. Hàng chè tàu trước ngõ đượng cắt xén thẳng tắp dọn đường cho dân làng thăm thú lẫn nhau mừng năm mới một năm mưa thuận gió hoà, an bình thịnh vượng. Hi vọng, chính vì niềm hi vọng ngày mai tốt đẹp hơn đã trở thành ý niệm người xưa truyền lại sau bao nhiêu cay đắng cơ cực của nhà nông từ ngàn đời để tin vào ngày mai tươi đẹp làm động lực vươn tới mới có hôm nay.
Quê tôi nghèo lắm, nếu không có ý niệm tương lai thì làm sao nói được câu ca rằng
Đừng than phận khó ai ơi!
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây
Trong khó nghèo nên ngày Tết còn có ý nghĩa đời thực là Tết mới có miếng ăn ngon “Giàu nghèo cũng ba ngày Tết” trẻ con trong làng thuộc làu câu hát:
Cu kêu ba tiếng, cu kêu
Cho mau đến Tết dựng nêu ăn chè
Mới tới ngày 23 tháng chạp, sau khi tiễn đưa ông Táo về trời, nhiều nhà mới đưa đồ thờ tự bằng đồng ra cọ rửa. Để lư đèn sáng loáng trong như mới, thường các cụ sai đám trẻ lấy tro bếp trộn với vỏ trấu thấm nước rồi kỳ cọ nhiều lần. Kỹ hơn, nhiều nhà còn lấy quả khế chua cọ trước rồi mới cho đánh bóng. Việc này, thủơ nhỏ tôi cũng đã từng làm dưới sự giám sát kỹ lưỡn của ông nội tôi! Ông bảo kỳ thật mạnh vào cho nó phát ra tiếng trèo trẹo mới ăn thua! Tô cọ đến nổi ngón tay cái móm mép như dầm nước lâu ngày nên rát rạt. Những đồ thờ bằng gỗ được lau chùi bằng lá chuối khô cho thật bóng. Kinh nghiệm dân gian đôi khi còn hơn nhiều trang viết khoa học.
Bàn thờ là nơi tôn nghiêm nên các cụ chăm bẳm hơn bất cứ chỗ nào trong nhà. Chỉ riêng một việc thay cát vào lư hương cũng đã thấy công phu đến nhường nào! Cát được lấy từ những nơi tinh sạch mang về nhà lọc đãi rồi đem phơi nhiều nắng để cát trắng tinh mới thay vào lư. Việc làm này phải tự tay các cụ ông mới làm được, còn bọn trẻ vô tình làm cẩu thả một chút là bị quất roi mây ngay lập tức! Những chân nhang cũ phải đốt cho bằng hết không để vương vãi làm thất lễ ông bà....
 

Mặt trận văn nghệ Tết năm ấy

22/01/2014 lúc 15:19






N





gày 27 tháng 1 năm 1973 Mỹ và chính quyền miền Nam lúc bấy giờ đã chịu ký kết hiệp định Pari, ngừng bắn vô điều kiện trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam. Vào thời điểm này tỉnh Quảng Trị đã được giải phóng, nhưng còn một số địa phương, bộ đội của ta và địch đang tạm thời giữ nguyên vị trí đóng quân của mỗi bên theo thế cài răng lược.
Ở huyện Triệu Phong có những tuyến chốt giữa ta với địch chỉ cách nhau gang tấc, gọi là vùng “xôi đậu”. Cụ thể ở tuyến chốt Long Quang xã Triệu Trạch, có nơi bộ đội của ta và địch dùng chung một giếng nước, đi chung một con đường, một nhịp cầu tre bên ni bên nớ sớm chiều lại qua, có khi một bánh lương khô cùng chia nhau một nửa, điếu thuốc cùng châm lửa mời nhau hút.
Tôi còn nhớ rõ ngày Quốc Khánh mồng 2 tháng 9 năm 1973 lúc ấy tôi phụ trách đội văn nghệ cùng với anh Trương Văn Cẩn phó ban văn hoá tuyên truyền xã Triệu Phước. Được sự đồng ý của cấp trên, do ông Dương Vĩnh Quang - Bí thư huyện uỷ, ông Lê Ánh trưởng phòng văn hoá thông tin huyện Triệu Phong. Chúng tôi đưa đội văn nghệ xã Triệu Phước vào tiếp cận tuyến chốt Long Quang xã Triệu Trạch, để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền và làm công tác binh vận, kêu gọi binh lính trong hàng ngũ của địch, thực hiện đúng hiệp định Pari, bỏ súng trở về với gia đình, quê hương. Toàn thể đội văn nghệ vỏn vẹn 10 người, tôi phụ trách đội trưởng, kiêm kỹ thuật âm thanh, sáng tác hò bình vận, lời kêu gọi. Anh Quốc Dũng đàn măng đô lin, anh Trần Nhơn Quang đàn ghi ta. Người lớn tuổi nhất là mẹ Đờn 60 tuổi hò binh vận và nhỏ tuổi nhất là em Thuý Diễn 8 tuổi hát múa. Đội văn nghệ chúng tôi tiếp cận chiến hào của địch, chọn một mô đất rộng khoảng 16m2 , tạm thời sử dụng làm sân khấu để biểu diễn. Một phong màn trắng được căng lên, chương trình văn nghệ nhanh chóng được mở màn, những tiết mục đặc sắc ca, múa, hò binh vận liên tục diễn ra một cách hấp dẫn, các anh lính Sài Gòn lúc bấy giờ, kéo nhau đến xem càng lúc càng đông giữa ban ngày, họ dùng chiếc mũ đồng kê ngồi xem văn nghệ một cách say sưa và vỗ tay cổ vũ, tán thưởng nhiệt tình.
Mẹ Đờn có câu hò binh vận, mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in:
- “Con nghe ai mà hoá ngây hoá dại,
Con nghe ai mà phản lại giống nòi,
Đêm mằm nghĩ kỹ mà coi,
Con đi hướng đó chẳng khác thể rước voi đạp mồ”.
- “Hoà bình rồi sao con còn đi mãi
Cha mẹ đã già trăm tuổi nay mai
Vợ hiền nét sắc tàn phai
Trẻ thơ mong đợi con theo ai không về”.
Mẹ Đờn nay đã tròn 95 tuổi hiện đang sống ở làng Cao Hy xã Triệu Phước.
Em Thúy Diễn hát bài: Ánh trăng hoà bình, bài hát có câu: “Bóng trăng tròn lướt qua rặng tre/ Trăng lấp lánh ánh vàng xóm quê/ Trong trăng thanh sáng ngời em hát cười/ Trăng trông em đang múa hát trăng cũng cười...” Trước micarô lời em hát cứ thánh thót vang lên một cách ngọt ngào, trong sáng và những lời kêu gọi đầy quyến rũ đối với những người cha đang lầm đường lạc lối, đứng bên kia chiến tuyến hãy mau mau trở về với vợ con, gia đình, quê hương. Trong lời kêu gọi có câu: “Hoà bình rồi sao ba còn đi mãi, không về với con, ngoài vùng giải phóng, ngày đêm mẹ và các con đang mong đợi ba từng phút, từng giờ, ba hãy về với các con. Các con nhớ ba nhiều lắm...”
Em Thuý Diễn hiện nay đã 43 tuổi đang làm ăn sinh sống ở làng Dương Xuân xã Triệu Phước.
Thông qua các tiết mục văn nghệ của mẹ Đờn và cháu Thuý Diễn, có nhiều anh lính Sài Gòn hình như đã đồng cảm, vừa chú ý lắng nghe và nét mặt đăm chiêu, hằn nỗi buồn trên khoé mắt, gương mặt. Hẵn các anh ấy cũng nhớ mẹ già, vợ hiền và các con thơ dại nhiều lắm! Hơn 30 phút văn nghệ trôi qua hai bên chiến hào bắt tay nhau thân mật giữa những anh bộ đội giải phóng và các anh lính Sài Gòn, họ mời nhau ăn từng bánh lương khô, mời nhau những điếu thuốc Sa Lem, Tam Đảo, Điện Biên. Vài anh lính Thuỷ quân lục chiến của địch có tính tò mò hỏi: - “Sao máy phóng thanh của các anh chỉ có một micarô, một đàn ghi ta, một đàn măng-đô-lin , mà âm thanh người hát lẫn tiếng đàn đều được vang lên hay đến vậy?” Tôi vui vẻ trả lời: - Do yêu cầu cơ động thuận tiện, máy phóng thanh được chúng tôi cải tiến từ một máy thông tin C10 của các anh lính Sài Gòn, công suất chạy bằng hai con sò, đủ sức phóng thanh cho hai loa sắt, được hàng ngàn người nghe rõ; còn micarô được buộc vào cần đàn ghi ta, do vậy mà cùng một lúc giọng hát tiếng đàn được chuyền vào một micarô, âm thanh hoà quyện vang lên nghe rất hay chẳng khác gì đàn ghi ta điện tử....
 

Tặng phong lan

17/04/2014 lúc 14:47

Trong một chuyến ra Hà Nội dự họp do Bộ văn hoá triệu tập, lúc trở lại Vĩnh Linh tôi vẫn dùng chiếc xe đạp Junior do Tiệp Khắc viện trợ. Qua thị xã Đồng Hới - Quảng Bình quang cảnh đúng như trong bài thơ mà anh Tố Hữu đã viết “Thành phố trụi”:
“...Đến làm chi đây
Ta đã biết
Đô thành ta phá hết lâu rồi
Còn nhìn chi nữa giữa thây vôi
Hoang tàn
Đổ nát
Ta đi trên đường đá rát
Đông lạnh ghê người
Chiếc lá vèo rơi
Xuống cỏ...”
...
 

Vui thú bài chòi

26/05/2014 lúc 09:06






V





ui xuân có nhiều trò chơi thật cuốn hút. Đua thuyền, đánh vật, đấu võ, kéo co, cướp cù, đánh đu, chơi cờ tướng (cờ người)... Mỗi chốn quê có một thú vui riêng. Bài chòi là thú ham mê của nhiều miền quê Quảng Trị. (Ở Liên khu 5 chơi bài chòi rất phổ biến. Bởi thế điệu bài chòi tấu lên thành làn điệu khá riêng biệt của Liên khu 5).
Trên một khoảng đất rộng, người ta dựng hai dãy chòi đối diện cách nhau chừng mười lăm đến hai mươi mét. Mỗi bên 5 cái. Bốn chung quanh phải có chỗ thoải mái cho người đứng xem. Chòi cao chừng ba, bốn mét làm sao cho người chạy bài dưới sân vừa tầm tay với lấy thẻ bài, người đánh ngồi trên chòi trao cho; Chòi có làm bậc thang lên xuống chắc chắn và ván lát, chiếu trải bằng phẳng tử tế. Một bó thể sáu mươi chiếc bằng tre hình như thể chiếc chèo thu nhỏ, đầu bản chèo dán giấy ghi tên và hình vẽ các con bài những là Ông Ầm, Đỏ Mỏ, Noọc Đượn, Bạch Tuyết, Lá Liễu, Thất Giọn, Lục Chuông, Ngũ Trưa, Bát Bồng, Nghèo, Gà, Thưa, Dày Rún.v.v... bằng mực tàu màu son, màu đen. Sáu mươi con bài chia làm ba mươi cặp cho hai bên. Người làm trọng tài (Ban tổ chức) lăn, xáo con bài trên mặt bàn rồi rẽ làm hai phần; mỗi phần chia làm năm suất (cho 5 chòi) cho vào chiếc ống, mỗi ống sáu thẻ (kiểu như chia bài tu-lơ-khơ). Người chơi không kỳ mọi đối tượng: Đàn ông, đàn bà, trẻ già, trai gái - ham thích nhất là các bà, các mẹ, các chị - mỗi người tham gia chơi góp vào một định suất năm, ba tiền, hoặc năm, mười đồng bạc Đông Dương (tiền ngày xưa), mươi, mười lăm ngàn đồng tiền ngày nay, tùy quy định của Ban tổ chức; xong léo lên chòi ngồi. Ngồi chòi nào cũng được. Trên mỗi chòi có một chiếc mõ trẻ. bầu không khí sân chơi luôn rộn rã tưng bừng. Trống đánh, sáo thổi, kèn thúc, mõ réo...

Tiệc rừng

26/05/2014 lúc 09:06






T





rong những năm chúng tôi đón tết ở rừng thì có lẽ cái tết năm 1972 (Nhâm Tý) là rộn ràng và chu đáo hơn cả. Cảm nhận này với chiến trường Trị Thiên Huế nếu chưa phải là chung thì ít ra cũng của riêng tôi. Với tôi, đã có đến 6 cái tết ở chiến trường, mỗi cái để lại cho tôi những dấu ấn khó quên. Cái thì đói, đói đến mức không lê nổi đôi chân ra khỏi lán. Những khi đói khát ta thường bắt gặp những giấc mơ về ăn uống. Đêm 30 ngủ mơ thấy được về phép ăn tết với gia đình; cái thì chiến sự diễn ra ác liệt, từ ngày 29 đến mồng 3 cán bộ chiến sĩ được lệnh đề cao cảnh giác, tăng cường bố phòng, tuần tiểu. Ngày mồng một Tết phải đi cứu hầm, cứu kho, cấp cứu người bị thương; cái thì sát tết phải di chuyển địa điểm, tìm nơi làm kho, đào hầm, dựng lán; cái thì ăn tới ăn lui đến hai lần mà vẫn không có không khí tết... Mãi đến năm 1972, cái tết năm ấy được tổ chức khá chu đáo nên tôi gọi đó là tiệc rừng.
Trước tết khoảng một tuần, lãnh đạo Ban kinh tế Khu ủy Trị Thiên Huế quyết định thưởng cho chúng tôi một ngày nghỉ và một chiếc đồng hồ senkô để đơn vị đổi heo, đổi nếp tổ chức tết cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị vì đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và công tác trong năm.
 
Ngày nghỉ ấy tất cả đơn vị luồn rừng, xuống suối vào dân để tìm kiếm lương thực, thực phẩm cho cái tết âm lịch với phương châm: Bảo đảm công tác, an toàn tuyệt đối và cái tết vui vẻ, thịnh soạn...

Tiểu đội đánh chìm tàu chiến Mỹ trên biển Cửa Tùng năm ấy

22/01/2014 lúc 14:55






X





ã đội trưởng Nguyễn Mễ đang ngồi đó. Vóc dáng khắc khổ và cái bệnh gout kinh niên đang làm ông già đi trước tuổi 70 của mình. Nhưng cái chân chất quê mùa của người cựu chiến binh thì vẫn tươi rói, vẹn nguyên những năm tháng gian khổ của chiến tranh, đầy khí phách của người lính năm xưa. Ông Mễ nhớ lại...
... Dạo đó là tháng 5 năm 1968, sau tết Mậu Thân cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đi vào giai đoạn ác liệt nhất. Xã Vĩnh Quang bị giặc Mỹ hủy diệt nặng nề. Quê hương ông thành một vành đất đỏ, loang lỗ hố bom đạn pháo của địch. Kể sao hết những mất mát, hy sinh mà con người phải chịu đựng. Không ngày nào bom trên trời không trút xuống, đại bác từ Cồn Tiên, Dốc Miếu bắn ra. Tàu chiến Mỹ thì liên tục áp sát vùng biển Vĩnh Quang, Vĩnh Thái, Vĩnh Thạch chặn đường tiếp tế của quân dân trực dân Vĩnh Linh cho Đảo Cồn Cỏ.
Là xã đội trưởng dân quân trực chiến xã Vĩnh Quang, Mễ nổi tiếng là một cán bộ dũng cảm, lì lợm. Ở đâu có bom đạn là ở đó có ông. Ngày đêm chứng kiến giặc Mỹ gây tội ác trên quê hương, Mễ như có muối xát. Cách nào diệt được tàu địch mà khỏi bị máy bay trinh thám OV.10A phát hiện. Dùng DKZ đánh tàu thì khoảng cách khá xa? Nhiều đêm Mễ thao thức không chợp mắt. Đang đêm, từ gốc hầm chỉ huy, Nguyễn Mễ bật dậy, ông kéo Hồ Đề, Nguyễn Hược, Lê Nghị vào ngồi cạnh, chỉ vào quyển sổ đánh dấu tọa độ vùng biển, tàu chiến Mỹ thường hoạt động, ông quả quyết:
- Phải dùng vũ khí tiếp cận tàu địch để diệt chúng theo cách đánh của bộ đội Hải quân 1A ở Cửa Việt thôi.
Một thoáng suy tư, Đề gật đầu:
- Ý tưởng táo bạo đó, nhưng lấy đâu ra thủy lôi loại vũ khí kỹ thuật hiện đại ấy, rồi việc tiếp cận tàu địch, độ sâu của làn nước để thuỷ lôi dễ kích nổ?
Biết tâm trạng của đồng đội, Mễ mĩm cười:
- Ta với 1A là đơn vị kết nghĩa. Phải nhờ bạn thôi. Họ có khí tài kỹ thuật, cả kinh nghiệm đánh địch nữa!
Ý kiến của xã đội trưởng Nguyễn Mễ nhanh chóng được anh em đồng tình và được đồng chí Trần Tình khu đội trưởng Vĩnh Linh chấp nhận. Buổi làm việc đối với đơn vị 1A được diễn ra suôn sẽ. Bạn giúp trang bị khí tài và phương pháp lắp ráp vũ khí, kinh nghiệm, kỹ thuật đánh tàu. Nhưng rồi kế hoạch được triển khai không như ý muốn. Chuyến ra quân lần đầu đã bị tổn thất. Kíp lắp khí tài của đồng chí Hược, Nghị, Đề và một chiến sỹ Hải quân do sơ suất thuỷ lôi phát nổ, 4 chiến sỹ hy sinh.
Đang họp ở khu đội, nghe tin Mễ lặng đi, ruột gan ông như đau thắt. Trở về đơn vị mai táng xong cho đồng đội, Mễ triệu tập họp rút kinh nghiệm. Lần này Mễ báo cáo với đơn vị Đảng uỷ xin trực tiếp đi chiến đấu. Kế hoạch được chuẩn bị chu đáo và kỹ càng hơn. Tiểu đội ông phụ trách có thêm hai chiến sỹ là Hồ Phòng, Trần Chơ.
Đêm ấy từ bến đò A Cửa Tùng, hai quả thuỷ lôi có trọng lượng 1000kg được chuyển sát mạn thuyền lắp kíp nổ rồi xuất bến. Chiếc thuyền chậm rãi lướt đi trong đêm, dưới ánh sáng chập chờn của những ngọn pháo sáng phía Hoà Lý. Hơn ba giờ đồng hồ ngâm mình dưới nước, tổ chiến đấu dắt thuỷ lôi đến nơi mai phục toạ độ đã được xác định.
Một đêm..., rồi hai đêm trôi qua. Tàu chiến Mỹ vẫn lãng vãng ngoài khơi. Cả tiểu đội nóng lòng chờ đợi. Chập tối ngày 25/08/1968, tổ trực ban phát hiện tiếng rì rầm của tàu chiến. Tiếng máy tàu nghe mỗi ngày mỗi gần, có cả đèn pha chiếu ở mũi tàu. Đạn cối và đạn 14,5 ly ở tàu bắn như mưa vào bờ. Đúng hai giờ từ toạ độ X, một luồng lửa loé lên ở thân tàu và một tiếng nổ to vang trong đêm.
Từ đài quan sát, Hồ Phòng reo lên:
- Thuỷ lôi đã nổ, tàu chiến Mỹ bị đánh trúng rồi!
Tin được báo về Ban chấp hành xã đội. Nguyễn Văn Mễ phấn khởi ra mặt, nhưng ông vẫn bán tính bán nghi. Mãi 7 giờ sáng điện từ đài quan sát của bộ đội 1A báo về: Một tàu chiến Mỹ bị thuỷ lôi đánh chìm tại vĩ độ 16,80, kinh độ 107,40. Bên Cát Sơn đơn vị bạn báo cáo là có một số phao bơi, tư trang dạt từ biển dạt vào. Thế là rõ....
 

108 ngày bên Cửa Việt

17/04/2014 lúc 14:48






C





uối năm 1966 Nguyễn Đức Tuân vào đất liền làm trợ lý tác chiến ở tư lệnh mặt trận 20. Đầu 1968 Trần Văn Thà cũng được gọi vào. Lệnh trên bảo anh: “Cứ nghỉ ngơi đi đã”, nghỉ chừng mười ngày, Thà nghe loáng thoáng anh em nói với anh: “Thà vào để làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 47”.
Trần Văn Thà đoán không biết mình sẽ đến mũi chiến trận nào đây, chắc chắn cũng chỉ xung quanh Quảng Trị thôi. Nghĩ vậy, để nắm chắc địa hình Quảng Trị, anh vào phòng tham mưu, tìm bản đồ Quảng Trị nghiên cứu đất đai, sông núi, đường đi lối lại. Không ở ngoài đảo nữa, lính đóng quân trong đất liền, chắc sẽ chạm trán với Mỹ nguỵ đang ở đây.
Trần Văn Thà hỏi Nguyễn Đức Tuân:
- Đánh nhau với bộ binh Mỹ, loại vũ khí nào của Mỹ là đáng gờm nhất?
Tuân đáp:
- Súng phóng lựu của Mỹ rất nguy hiểm. Nó bắn rất dễ trúng. Đạn nổ vỡ hàng trăm mảnh, sát thương lớn, nếu không có hầm hố. Tên nó là M79.
- Còn phòng thủ, tác chiến của chúng ra sao?
- Không đáng ngại, song pháo của chúng và trực thăng cũng là hai thứ đáng gờm.
Đùng một cái, Trần Văn Thà được liên lạc đưa giấy mời, gọi đến bộ chỉ huy, gặp Lê Kỳ Lân và Hoàng Nhuận. Trong cuộc gặp này thấy có cả Trần Thanh Điệu, thượng úy của một tiểu đoàn cao xạ....
 

Hội chạy cù ở Phú Mỹ

12/05/2014 lúc 16:29

Làng Phú Mỹ nay là Nam Phú, xã Vĩnh Nam, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) nằm gần sát đường thiên lý Bắc - Nam. Tương truyền từ thuở đánh giặc Chiêm Thành có ông tướng dẫn quân từ Bắc vào hạ trại ở đây. Đêm nằm ngủ, ông mơ thấy một vị thần hiện lên hỏi: “Nhà ngươi cầm quân đi chinh phạt xa xôi, thung thổ lạ lẫm, quân giặc bạo tàn, đã có phương sách gì chưa?” 
 

Thầy và bạn tôi năm ấy

22/01/2014 lúc 09:15

Tháng giêng năm 1970
Còn tuần nữa là hết năm âm lịch. Trường có việc ở Hà Tĩnh. Tôi phải đi.
Thật phấn khởi! Hai mươi năm rồi tôi mới có dịp về Can Lộc thăm thầy cũ và tìm bạn bè cùng lớp ngày nào...
...
Lần mãi tôi cũng đến được nhà thầy. Hai cây cau còn đó. Giếng nước vẫn như xưa. Chỉ cây ổi góc vườn quen thuộc với chúng tôi không còn nữa.
Tôi vào nhà, không có thầy. Cô đã già, vẫn cái khăn nhung đen vấn tóc. Nhà chỉ mình cô. Thầy mất rồi, một em đi bộ đội B, một em làm trên huyện, em gái lấy chồng. Chuyện một hồi cô mới nhớ:
-   À! Ra là cậu! Tôi nhớ rồi, còn cậu Hiệu nữa. Cái ngày ấy các cậu mười bốn, mười lăm tuổi thôi mà!
Tôi đã chuẩn bị quà thăm thầy nhưng bầy giờ phải đặt cả lên bàn thờ. Đốt mấy nén nhang, tôi đứng yên khấn nguyện. Tôi biết cô buồn, nhất là những ngày áp tết gió mưa... Biết làm sao, tôi đốt thêm tuần nhang và xin cô đi tiếp...

Đồng chí Trần Mạnh Quỳ khôi phục, xây dựng Đảng ở Nghệ An

22/01/2014 lúc 09:14






S





au khi phát xít Đức nổ súng xâm lược nước Ba Lan, Chính phủ Pháp và Anh tuyên bố tuyên chiến với Đức. Bắt đầu tham chiến, Chính phủ Pháp thi hành chính sách phát-xít giải tán Đảng Cộng Sản và các tổ chức dân chủ ở trong nước và ngoài nước thuộc địa.
Tại Đông Dương thực dân Pháp điên cuồng tấn công vào các Đảng Cộng Sản và các đoàn thể quần chúng của Đảng. Báo chí tiến bộ bị đóng cửa. Các tổ chức dân chủ và các quyền lợi của quần chúng đã dành được đều bị xoá bỏ.
Tại Nghệ An, nhất là ở Vinh, Bến Thuỷ, với lực lượng mật thám dày đặc và chúng đã dùng tên phản bội Đinh Văn Di (từng làm Bí thư tỉnh uỷ Nghệ An, là Bí thư liên tỉnh ủy Thanh-Nghệ-Tĩnh) đã bắt hầu hết cán bộ chủ chốt trong Đảng bộ Nghệ An. Chỉ tính từ tháng 9 đến tháng 12 – 1939 có 258 đảng viên, cán bộ bị bắt, trong đó có nhiều chính trị phạm đã được ân xá. Số không bị bắt thì bị quản lý chặt chẽ, đêm phải đến ngủ điếm canh, hàng tháng phải đến trình hào lý. Các tổ chức Đảng khắp nơi đều bị phá vỡ.
Cuộc hội nghị tại Huế, Trần Mạnh Quỳ được bổ sung vào Thường vụ Xứ uỷ Trung Kỳ. Thực hiện Nghị quyết T.Ư lần thứ 6 (11-1339) Trần Mạnh Quỳ được phân công phụ trách hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh...

Ai về Cẩm Duệ thì về...

17/04/2014 lúc 14:48






N





hững đồng chí lãnh đạo cao nhất của xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh đã đón đoàn công tác của Hội nhà báo Quảng Trị một cách thân tình, hồ hởi, phấn khởi như đón những người ruột thịt đi xa nay trở về nhà. Không có ranh giới của sự e dè, giữ kẻ giữa khách và chủ. Những người con của quê hương Cẩm Duệ đã coi tất cả chúng tôi - những người đến từ Quảng Trị - quê hương đồng chí cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn như người trong cùng một gia đình, dù chỉ mới lần đầu gặp mặt. Điều đó khiến cho ai cũng cảm thấy xúc động. Chúng tôi càng thấm thía câu nói của cha ông “sông có nguồn, cây có cội, người có tổ, có tông”. Nguồn cội như mạch nước ngầm âm ỉ chảy trong lòng đất từ đời này qua đời khác, nuôi dưỡng niềm tin, lòng tự hào, tình yêu của con người từ xa xưa đến nay và mãi mãi. Đó cũng chính là sợi dây tình cảm gắn kết con người của hai vùng quê Cẩm Xuyên với Triệu Phong Quảng Trị.
Không phải ngẫu nhiên mà đoàn công tác của Hội nhà báo Quảng Trị lại chọn Cẩm Duệ làm điểm đến đầu tiên trong hành trình thực tế của mình, cũng không phải ngẫu nhiên mà lãnh đạo và nhân dân Cẩm Duệ lại dành cho đoàn một tình cảm ấm áp đến như vậy. Tất cả đều bắt đầu từ nguồn cội. Theo truyền phả của dòng họ Lê, Cẩm Duệ và một số tài liệu ở trong nước thì nguồn gốc của họ Lê ở đây là họ Hồ. Ông tổ là Hồ Tiết Tăng sống ở ven biển Kỳ La....

Đội ngũ doanh nhân cần lớn mạnh về mọi mặt trước biển lớn hội nhập

22/01/2014 lúc 09:05






N





hìn lại những năm qua, đặc biệt là từ 4 năm trở lại đây kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ký quyết định lấy ngày 13/10 hàng năm là ngày “Doanh nhân Việt Nam”, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân ở tất cả các loại hình trong cả nước nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ về số lượng, chất lượng. Thành quả đáng mừng đó đã góp phần quan trọng vào mục tiêu ổn định, tăng trưởng kinh tế của đất nước, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động… Tuy nhiên, để đạt được thành công hơn nữa trong thời kỳ hội nhập sâu rộng này, vấn đề tháo gỡ những vướng mắc và xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về mọi mặt, tạo động lực thúc đẩy cho doanh nghiệp phát triển là một yêu cầu đặt ra hết sức cấp thiết.
Năm 1999, sau khi được Quốc hội ban hành, Luật Doanh nghiệp đi vào thực tiễn cuộc sống đã tạo môi trường ngày càng thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh. Luật Doanh nghiệp được đánh giá là đã tạo bước đột phá vÒ cải cách hành chính, nâng cao hơn nữa tÝnh nhất quán, thống thất, minh bạch và bình đẳng trong khuôn khổ pháp lý về kinh doanh ở nước ta. Luật Doanh nghiệp quy định cụ thể việc đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghịêp, bãi bỏ hàng trăm giấy phép và quy định pháp luật không cßn phù hợp đã tạo điều kiện cho môi trường hoạt động kinh doanh được thông thoáng vµ sát thực hơn với môi trường của thế giới nói chung. Tiếp nối tinh thần cởi mở đó, năm 2005...

Cam Lộ với di tích lịch sử cách mạng Nhà Tằm

17/04/2014 lúc 14:51






N





goài 2 khu Di Tích lịch sử: Tân Sở và Khu Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam -  Việt Nam. Cam Lộ còn có nhiều Di tích Cách mạng: Nhà Tằm- miếu An Mỹ - chùa An Thái - Đình làng Cam Lộ ..vv. Trong đó Di Tích Nhà Tằm (Tân Tường) có tầm vóc bề dày lịch sử cận đại và mang nét đặc thù như một bản doanh của cả hai thời kỳ: Trước và sau ngày có Đảng.
1. Thời tiền khởi 1914- 1918
Mùa xuân năm Giáp Dần - 1914 - Cử nhân Lê Thế Vỹ (1858- 1918) quê Làng Tường Vân - huyện Triệu Phong, là một sỹ phu yêu nước tham gia hoạt động trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Sau nhiều lần lên quan sát vùng rừng núi Thiện Thiên; một vùng rừng núi liên sơn thuộc hướng Tây Nam huyện Cam Lộ, phía Tây nối liền với rừng Khe Gió - Đầu Mầu lên Khe Mèo - Ba Tầng - Rào Quán, phía Bắc qua khỏi làng Quật Xá là đầu nguồn sông Hiếu và bên kia bờ sông là núi rừng trải rộng tiếp giáp với rừng núi Gio Linh - Vĩnh Linh ra tận Quảng Bình. Giữa những cánh rừng trùng điệp, núi non hiểm trở, con đường sơn đạo từ Hương Khê - Hà Tĩnh qua Tuyên Hoá Quảng Bình, len lỏi vào Phước Môn - Hải Cụ - Cu Đinh - Ba De đến Tân Sở (đại bản doanh của vua Hàm Nghi). Từ đó vào Xoa - Rì Rì qua làng Hạ tới Ba Lòng đi thẳng vào Mưng - Mang - Bộng Mệ đến Nam Đông - Nam Hoà, Thừa Thiên, hoặc theo đường sông xuôi về Trấm - Thạch Hãn. Con đường này được Tôn Thất Thuyết cấp tốc khai mở vào mùa hè 1884- cùng lúc với việc xây dựng căn cứ Tân Sở...

« 3940414243 »

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

06/08

25° - 27°

Mưa

07/08

24° - 26°

Mưa

08/08

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground