
16/08/2022 lúc 10:53

07/10/2021 lúc 10:07
T
iếng thức dậy những con gà trống gáy, tiếng chim gù, tiếng nhạc hẹn giờ chiếc điện thoại di động, tiếng rao quà sáng… là âm thanh sống động yên bình một ban mai hé rạng. Ai đó vẫn mơ hồ chìm sâu trong giấc âm no nhàn rỗi giữa bản hòa tấu đa cung bậc các chú gà sốt sắng, chim kêu nhau rên rỉ thiết tha, nhạc hẹn máy mọc… thì đây nhé: tiếng rao quà xô bồ méo uốn tất bật xôn xao: Ai ôi! (Ai xôi?); Bán té! (Bánh tét); Mi dê! (Mì i ê!); Ai háo! (Ai cháo?); Bánh chưng đơi (Bánh chưng đây)… Đường phố thức dậy và bầu không khí náo nhiệt bộn bề của bao nỗi lo toan chỉ dần lắng xuống sau đó chừng hai tiếng đồng hồ.
Như một sự xếp đặt tự nhiên, khi cái ồn ả tất tưởi trôi đi, những giọng rao chới với văng vẵng xa dần, một gánh bún hến chạy rong “chính hãng”. Do Mai xuất hiện. Không tiếng rao mời chèo kéo, không biển hiệu phô bày, gánh bún hến cứ “đến hẹn lại lên”. Khá nhiều các chị các bà hàng phố đang chực chờ. Bến đỗ của gánh ba người khách. Họ, hoặc mang bát mua đưa về nhà, hoặc có người ngồi xơi tại chỗ. Người bán hàng là một cô gái không thể đoán ra tuổi bởi khuôn mặt khô gầy, héo hó đen sạm nắng gió. ........

07/10/2021 lúc 10:07
C
ái li vỡ làm nhiều mảnh dưới nền gạch hoa. Thị coi lại trên tay, còn năm cái. Thị bước tiếp. Nhiều lần cứ sắp bước vô phòng sếp, là thế nào thị cũng đánh rơi một thứ vật nào đó, nếu không phải chân vấp cầu thang...
- Bố nhắc gì con? - Đôi lần trong lòng thị loé lên câu ấy.
Bố thị và ông Ba là bạn vong niên, cụ thể ông Ba thua ông Nhã chín mười tuổi chi đó. Họ thân nhau trong công việc, trong tính nết, họ giúp nhau vượt qua cuộc kháng chiến chống ngoại xâm gần đây nhất… Cái mối tình bằng hữu ấy giữ mãi ngay khi một bên đã về vườn còn một bên vẫn oai phong tại vị với một cái ghế kha khá của địa phương. Thị tìm hiểu kĩ, và biết giữa hai người không hề có ràng buộc kinh tế, văn hóa, chính trị nào, chỉ là tình thân chân chính; tức là ông Ba không hề mang chút ơn huệ gì với bố thị cả, kiểu như ông từng được ông Nhã cưu mang, giúp đỡ này kia chẳng hạn. ..

07/10/2021 lúc 10:07
P
hải trăn trở lắm hắn mới có quyết định trở về Tổ quốc; với một điều ước rằng: chỉ một lần trở về quê hương, lên bàn thờ tổ tiên thắp mấy nén hương cúi đầu tạ tội rồi làm điều gì đó cho gia đình, quê hương dù nhỏ cũng được để sám hối vì những gì mà hắn đã gây ra trong quá khứ rồi muốn ra sao thì ra.
Trong chuyến xe tour hành trình từ Lào về Việt Nam, ngồi cạnh hắn là hai bà người Lào gốc Việt, độ tuổi khoảng lục tuần nhưng còn sung sức lắm, họ vui vẻ nói chuyện liên hồi. Qua câu chuyện hắn được biết: một người ở Huế, còn người kia gốc ở Đà Nẵng, vì chiến tranh gia đình họ buộc phải phiêu bạt sang đất khách quê người. Họ mới tìm được gốc gác, họ hàng chừng khảng năm năm trở lại đây. Dùi chỉ là những thế hệ sinh ra và lớn lên trên đất bạn nhưng khi nói về quê hương giọng của họ nghe sao mà gần gũi, thân thương, tự hào đến vậy. Thế mới biết ông bà ta thường có câu: “Rung rung lá rụng về cội” quả là không sai. .......

07/10/2021 lúc 10:07
T
ừ quê chồng tôi, tin báo ra cho biết ngày chuyển mộ mẹ chồng tôi vào khu mộ dòng họ. Chồng tôi đang nằm bệnh viện vì chứng thấp khớp tái phát. Chúng tôi có cớ để không về. Nhưng tôi quyết định đi thay anh, chẳng phải chỉ vì nhìn mắt anh tôi biết anh nghĩ sao. Tự tôi thấy phải về, tôi cần phải về. Ngày bà mất, chúng tôi đã không về kịp trước lúc đưa bà ra huyệt. Tôi làm dâu mà không phải hầu hạ mẹ chồng ngày nào; mỗi lần về quê chồng được mẹ quý như khách. Lần gặp đầu, tôi đã mến mẹ, một người đôn hậu, bao dung. Lòng cảm mến càng giúp tôi hiểu bà qua chồng tôi. Những gì anh kể về quê hương, nhất là về mẹ, truyền cho tôi lòng yêu thương của chính anh. Nói khó tin, tình yêu thương ấy đã một lần góp phần hàn gắn vết rạn giữa chúng tôi, vết rạn có cơ dẫn tới chia li. Có lẽ tôi hiểu về mẹ chẳng kém gì chồng tôi, trước hết những gì liên quan đến anh.
Đỗ Sơ học yếu lược xong, muốn học tiếp tiểu học, chồng tôi ngày ấy phải đến trường huyện cách nhà chừng sáu kilômet. Phải sáng tinh mơ đi, tối mịt về, vì ngày học hai buổi, sáng và chiều, nghỉ thứ năm và chủ nhật. .........

07/10/2021 lúc 10:07
N
gày chị họ của tôi lên vùng kinh tế mới, tôi đã can ngăn: Mình là dân biển, hiểu con nước ròng, nước lợ, hiểu lưới quét, lưới rùng, con cá mùa trăng, con tôm mùa lũ, còn không làm ăn nên nỗi. Nay lên rừng, chẳng hiểu gì về đất, về cây, làm răng mà sống?
Tôi không muốn nói rằng: Người ta đủ hai tay, hai chân, hai mắt, chưa hẳn đã làm được gì trên đó. Chị chỉ có một chân, một tay, một mắt, sẽ phát bụi, lăn đá, cuốc đất, đào lỗ, mang vác thế nào được?
- Người ta đi khá đông, không riêng gì mình chị. Hơn nữa…
Chị nhìn lên phía núi, nơi ấy như một bức tường đỏ quạch màu máu đọng, dựng dài suốt một dãy miền Tây. Đó là núi trọc, đồi trọc, do chất phát quang, diệt cỏ, làm trụi lá cây rừng, có chứa chất cực độc Đioxin của Mỹ, đã hủy diệt màu xanh của cây rừng. Tôi cũng đã từng lên đó. Vùng đất đỏ Bazan màu mỡ miền Tây của huyện đã bạc màu nhanh chóng. Không còn cây rừng, đất bị nắng đốt, mưa lũ bào mòn, cuốn xói, trở thành vùng đất chết. Ngày không còn nghe tiếng chim hót. Đêm không nghe tiếng thú kêu. Người dân đi qua chiến tranh, lại lún sâu vào thời bao cấp, đói kém. Mọi người không lo nỗi cho mình, còn ai lo cho đồi núi trọc.
-…

07/10/2021 lúc 10:07
M
ỗi lần bước vào quán cà phê ấy lòng em không sao khỏi nhớ. Một nỗi nhớ cồn cào buôn buốt xiết chặt con tim với vết thương chưa lành. Vẫn góc quán đó cùng chiếc ghế chỗ ngồi quen thuộc rất khiêm tốn nơi cuối những hàng cây trong khu vườn. Lối đi lát đầy lá vàng và giàn hoa màu tím nhạt. Anh vẫn bảo đây là vị trí anh thích. Anh từng ước nếu sống trong đời có nhiều thời gian để nghiền ngẫm như thế này về mọi chuyện cần phải nghĩ thì quý biết bao. Đó là lần cuối cùng tôi ngồi cùng anh và không biết có gì là tiền định không vì đó là một buổi tối cuối năm.
Trong làn gió khẽ run rẩy của hơi lạnh bay vởn theo từng cơn mưa phùn lất phất làm ướt tóc người, tôi và anh nghé vào quán cùng lắng nghe bản nhạc mà cả hai đều thích.
Tôi ngồi bên anh lặng nhìn gương mặt với những nét thân thuộc nhưng sao hôm nay thấy anh có vẻ trầm tư hơn. Anh đang nghĩ gì à? Không. Anh nhẹ nhàng đẩy ly nước về phía mình. Em à…

07/10/2021 lúc 10:07
Q
uê tôi, là nơi có nhiều đền thờ miếu mạo. Mỗi ngôi đền mang một dấu ấn lịch sử của vùng quê như miếu Tiên Công thờ mười bảy vị có công khai sáng ta vùng đảo này. Rồi đền thờ đức Thánh Trần, đền thờ Phạm Ngũ Lão. Người dân quê tôi từ mấy trăm năm về trước cũng không muốn khắc sâu hận thù vào quá khứ nên cả tướng giặc như Phạm Nhan cũng lập đền thờ. Xưa kia mỗi ngôi đền đều rợp bóng cây cổ thụ cao chót vót, cành lá xum xuê là nơi hội tụ của những đàn chim các nơi về làm tổ. Nhưng qua nhiều năm tháng phôi pha, nhất là khi tri thức khoa học đã tiếp cận đến những người dân vùng đảo và sự đi lên của nền kinh tế thị trường thì những cây đa, đề, si, sộp ở các ngôi đền người ta chặt đi mở thêm lò gạch, mở rộng đường làng, xây cất nhà cửa chen lấn ra cả những khu vườn của đền, miếu. Những đàn chim cò, vạc, chào mào, vàng anh, sáo sậu… chúng táo tác gọi nhau chạy loạn di tản đến xóm Chùa ở giữa cánh đồng xa làng mạc tới nửa giờ đường đi bộ. ..

07/10/2021 lúc 10:07
T
ôi đánh xe trâu chở anh từ ga Xép về làng.
Tháng năm âm lịch. Cuối vụ gặt. Nước lấp xấp, đồng chiều trơ gốc rạ. Thỉnh thoảng sót lại một vài đám ruộng nhà ai đó chưa gặt, lúa trĩu bông vàng suộm. Tiếng dế nỉ non và tiếng chẫu chuộc nhảy tõm xuống nước. Muồm muỗm, cào cào, châu chấu nhiều vô kể, đậu xúm xít hai bên bờ cỏ, có con xoè áo khoác xanh, áo cánh đỏ làm dáng. Bước chân trâu đánh động những sinh vật nhỏ nhoi của cánh đồng bay rào rào lên thành muôn nghìn chấm nhỏ xù xịt trên không trung. Khói xanh ở gò Mã Giáng ngún thành vệt dài theo chiều gió nam thổi. Bọn trẻ trâu đang vơ rơm rạ khô, bùi nhùi bỏ thêm vào đống lửa đỏ. Mùi khói rơm mới lẫn mùi cào cào, muồm muỗm nướng thơm ngầy ngậy. Anh chỉ về phía đó, hỏi:
- Cô gì ơi! Bọn trẻ làm gì thế?
- Nướng cào cào.
- Người nhà quê hay nhỉ!
Anh cười cười, ngường ngượng. Chẳng biết anh khen hay là chê. Tôi hỏi:
- Anh chưa nhìn thấy cào cào bao giờ à?
- Chưa! Cô gì ơi. Cô chở thuê. Ngày nào cũng đánh xe trâu lên ga à?
- Một tháng đôi ba bận thôi. Tôi phụ thêm cho cha. Sao anh không đi xe ô tô lại ngồi xe trâu chở hàng của tôi?
..........

07/10/2021 lúc 10:07
G
iữa trưa hè nắng nóng nung đốt, hoạ sỹ Đặng Văn Liêm vẫn miệt mài vẽ tranh. Đã bước sang tuổi bốn mươi lăm, nhưng công việc sáng tác nghệ thuật với anh vẫn hừng hực cháy bỏng tình yêu như sức trẻ tuổi hai mươi.
Tâm nguyện của anh là vẽ thành công đề tài tầm gửi ký sinh, thực hiện bằng được di huấn của thầy anh.
Trở lại chuyện hơn ba mươi năm về trước, khi giáo sư hoạ sỹ Trần Lập sắp qua đời, ông trăn trối dặn lại Đặng Văn Liêm:
“ - Nếu con thành tâm yêu kính thầy, yêu nghệ thuật, con hãy kế tục sự nghiệp của thầy, vẽ tiếp cho đủ ba mươi sáu bức tranh tầm gửi ký sinh. Sở nguyện của thầy nằm cả trong tay con, con hãy cố gắng đừng phụ niềm tin của thầy. .........

07/10/2021 lúc 10:07
Đ
êm. Nghĩa trang vắng lặng. Gió thổi trên những tán cây lao xao, như tiếng ai đó thì thầm. Trời không tối mờ mịt như đêm ba mươi, nhưng cũng không sáng vằng vặc như những đêm có ánh trăng rằm. Ánh sáng nhờ nhờ chỉ đủ để nhìn thấy những ngôi mộ nằm ngay ngăn, thẳng hàng và phải đến thật gần, căng to đôi mắt mới có thể đọc được hàng chữ ghi trên những tấm bia…. Đã có rất nhiều đêm như thế, một ông già, mái tóc bạc trắng, vận trên người bộ quân phục màu bạc thếch, tay cầm chiếc đàn guita lỗ chỗ những vết thủng do mảnh đạn găm vào, đã được vá lại cẩn thận bằng gỗ mỏng và băng keo. Ông ôm đàn hát, hát như cho chính ông nghe. Tiếng hát giống như lời tự sự về những năm tháng gian khổ ở chiến trường. Ông bước đi, từ ngôi mộ này sang môi ngộ khác, mặc cho đêm dần về khuya, trời tối sẫm - mặc cho những cơn gió thỉnh thoảng lại ào tới ấn làn áo mỏng vào da ông, lành lạnh. Thấm mệt, ông dừng lại, dựa cây đàn vào thành nấm mộ, khẽ nói:
......

07/10/2021 lúc 10:07
H
ắn đã một lần gặp anh trong buổi giao lưu khán giả với Đoàn làm phim. Nhưng giáp mặt một cách tình cờ thì phải đến cái lần hắn chở anh trên một cuốc xích lô.
Hôm ấy, nắng cuối ngày hừng lên rồi để tắt, thứ nắng xứ Huế rót mật lên kinh thành cổ màu vàng nâu u hoài buồn muốn khóc. Mây cũng đổ bóng xuống sông Hương, nước ngừng trôi, sông cũng ngừng trôi. Cảm giác thất vọng cộng với không gian trầm mặc tù đọng, bí bách vô cùng. Anh lặng lẽ rời buổi tổng kết lúc nửa chừng. Chán quá! ở cái nước mình dường như hội thảo, đại hội, trại sáng tác văn học, sân khấu, liên hoan phim..., cuộc nào cũng được định lượng là thành công. Mừng vui, hoan hỉ, người ta bắt tay, chúc tụng, khen nịnh không tiếc lời, ngập đầy thỏa mãn..., để rồi lần sau lại... thắng lợi, thành công hơn lần trước.
Tâm trạng tuyệt tình phim chiến tranh luôn ngự trị trong đầu anh. ....

07/10/2021 lúc 10:07
C
hị lạc về đây với vẻ trinh nguyên của một người con gái, cả cánh đồng ngô cũng đến mùa trổ bông. Hương ngô thơm ngào ngạt, ngọn gió mang hơi nước từ con sông quê mát lành. Chị nằm xuống trên một thảm cỏ xanh, mảnh đất lọt thỏm giữa cánh đồng được che chắn bởi ba gốc cây cổ thụ nên người dân không canh tác. Rồi chị ngủ một giấc ngon lành, những ngày sau chị vẫn nằm ở đó. Người dân nơi đây đưa cho chị những nắm cơm được trích ra từ khẩu phần ăn của gia đình họ và những người đưa cơm không khỏi chậc lưỡi “Trời, con nhà ai mà đẹp đến thế! Chỉ tiếc rằng điên”.
Nhưng những người đàn ông trong xóm mới thật sự điên với lòng mình. Ngày ngày, họ cố đi ngang qua con đường ấy để nhìn chị, để được một chút phiêu du trong thế giới hôn nhân đầy rêu phong một thủa. Đêm về, họ nằm hững hờ trên chiếc giường thân quen mà nghe gió xào xạc từ cánh đồng ngô thổi vào lồng ngực. Rồi một người đàn ông, hai người đàn ông đến đó nhưng họ không đủ dục tính để biến chị thành đàn bà. Bởi đôi mắt ấy chứa một niềm thánh thiện, một sự yêu thương đánh chìm cả bản năng xác thịt của họ. Những người đàn ông thất thểu ra về vào mỗi sớm mai để rồi những người đàn bà hỏi “đêm qua ông ở đâu?” thì chắc rằng các ông ậm ờ như người mất vía. Và tiếp sau đó mà một ngày dài không nói mặc cho những bà vợ khóc than. Chỉ khi lập đàn khấn, các ông mới mở khẩu: “Tội! Mất vía mà mình nghi oan cho mấy ông, tưởng là lạc vào cánh đồng ngô…” Nhưng những người đàn ông biết, cần có sự im lặng trong một khoảng thời gian nếu không bịa ra được chuyện gì hay ho hơn đổ tội cho thần cướp vía. Sau một đêm sâu thăm thẳm, họ trắng mắt nhìn cánh đồng ngô mà nghe những hương sắc thơm ngầy ngậy, nghe gió thả ra mênh mang, nghe bàn tay năm ngón không đủ sức để chạm ngỏ cõi hồng hoang. Nghe lòng như vừa bước ra khỏi cửa phật lại gặp cây bồ đề đứng chắn. Lá vàng rơi khắp nẻo.
Nhưng không phải mùa thu…
Đêm tháng ba, những bắp ngô bây giờ đã thôi ngậm sữa. Cả cánh đồng ú mềm bởi những sinh sôi đã đến thì no hạt. Hắn bước đi trong ướt đẫm sương đêm. Cũng như những người đàn ông ở xóm này, hắn bước đến chỗ chị rồi ở lại đó. Đêm, tiếng dế đồng gọi bạn. Vầng trăng sáng đủ để hắn nhìn thấy một người con gái phủ một lớp sương và bên dưới lớp sương lộ ra thân hình trắng nõn. Hắn nhìn thấy, rồi vầng trăng chạy tuốt vào trong đám mây nhường chỗ cho một thân hình lực lưỡng. Hắn đổ ụp lên người chị, những ngón tay của họ đan vào nhau. Chị đón nhận tình yêu ở hắn từ từ, không phải những giằng xé từ một chuyến đi nhờ xe tải đường dài. Ba thằng đàn ông đầy thú tính muốn nuốt chị, chị lao xuống đường để thoát thân và bọn hắn tưởng rằng chị chết. Mà chị cũng đã từng chết đấy thôi, bao nhiêu năm giờ mới ý thức được rằng mình có tên trên dòng đời xuôi ngược.
Hắn cũng nghe mình trở thành người đàn ông khi gửi tình yêu vào người chị. Bây giờ hắn nghe như mình từng có gia đình, có những yêu thương, có men say không phải của những ngày chìm trong men rượu. Của bố, của mẹ và sau đó là của hắn. Bố mẹ hắn chia tay, hắn bị dạt ra xa cái bến bờ hạnh phúc. Không ai muốn nuôi hắn, vì cấn dì dượng. Từ thành phố, hắn lạc về cái miền quê heo hút. Năm lên 18 tuổi hắn bắt đầu say. Cái ngày hắn đi có mưa, nhưng được hơn mươi phút thì trời nắng. Thằng con trai 14 tuổi hắn cười khà khà “Trời điên hèn chi người cũng điên! Ba mẹ đang sống bên nhau, đùng một cái hai người chia tay rồi dẫn hai người lạ mặt về. Chỉ tích tắc như ông trời cao ngạo”. Hắn có vai trò gì trong gia đình hắn?..

07/10/2021 lúc 10:07
B
ao năm rồi tôi mới đặt chân đến nơi này. Nói đúng hơn năm nào tôi cũng đến nhưng chỉ đến duy nhất một “ngôi nhà”, nơi có em tôi. Còn tham quan xứ sở mà có một thời tôi đã gắn bó thì lại quên bẵng. Ngày đó, tôi yêu nơi này lắm, yêu cánh đồng lúa bạt ngàn, yêu những bóng tre xanh mát, yêu con sông quê bên lở bên bồi, yêu những bãi dưa, ruộng ngô dài tít tắp được dòng phù sa nuôi dưỡng, yêu những người nông dân “Bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, yêu những đồng nghiệp năng nổ, nhiệt tình. Hằng năm, tôi cứ đến từ một nơi và đi cũng từ một nơi, như một quán tính đã được lập trình sẵn. Lần này là ngoại lệ, tôi muốn đi dạo, hình như điều mà một con người không thể bỏ được đó là suy nghĩ, mỗi lần dạo bộ và không suy nghĩ là niềm vui bất tận của từng tế bào trên cơ thể tôi. Tôi đang thả lỏng mình, dạo bộ trên bờ hồ, ngồi nhìn những chùm bằng lăng tím thẫm chợt thấy nao lòng…
Ngày đó, tôi là hiệu phó một trường trung học, em là một cô giáo mới về trường. Về dạy được một tuần, tôi liền đưa lịch dự giờ. Tôi nghĩ bụng: “Một cô tiểu thư với vẻ đẹp đài các, kiêu sa thì chắc đi dạy cũng chỉ là một hình thức chưng diện”. Thế nhưng tôi và cả tổ bộ môn đã ngạc nhiên trước phong thái sư phạm chuẩn mực của em, thao tác rất nhuần nhuyễn, cứ như một giáo viên có thâm niên, kiến thức chuyên môn vững vàng và có một điều đặc biệt là em làm chủ được tiết dạy, không bị học sinh cuốn, tiết học trôi qua nhẹ nhàng và em đã xử lí các tình huống sư phạm rất nghệ thuật.
Chỉ sau một năm công tác, tôi mạnh dạn đưa em đi Hội giảng huyện. Với số điểm cao nhất đợt hội giảng đó, em được chọn đi Hội giảng tỉnh. Tiết Văn của em- “ Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương - một văn bản thơ Đường không dễ dạy nhưng em đã được xếp loại xuất sắc. Sau bao nhiêu nỗ lực và phấn đấu, em đã được Hiệu trưởng bổ nhiệm làm Tổ trưởng chuyên môn trong khi tuổi còn quá trẻ.
Em còn được đưa vào tổ chuyên viên Văn của Phòng giáo dục trong khi tuổi đời còn thua tuổi nghề của nhiều đồng nghiệp. Em rất thẳng tính, mỗi khi đi thanh tra chéo, em góp ý thẳng thắng với mong muốn họ sẽ tiếp thu và tiến bộ chứ không có ý là “bới lông tìm vết” để trù dập. Nhiều lúc, trường này nhìn trường kia nên còn nể nhau nhưng em không màng chuyện đó. Hay thì khen và học hỏi, sai thì góp ý thẳng thắng và đưa ra cách khắc phục. Một anh trong Phòng giáo dục gặp tôi, lắc đầu:
- “Lính” anh giỏi thiệt nhưng thẳng tính quá, đáng lẽ làm giám khảo Hội giảng huyện nhưng bộc trực kiểu này chỉ phù hợp đi thanh tra. Khi thanh tra nên chỉ ra cái sai, người ta sẽ sợ mà lo sửa, còn Hội giảng, sai nói sai, đúng nói đúng thì mấy ai đạt.
Có một năm, trường tôi được thanh tra toàn diện, các đồng nghiệp trách móc:
- Bữa em đi thanh tra, em trù dập người ta, bữa nay tới người ta trù dập mình. Em thì không sao rồi, chỉ tội cho mấy anh chị em trong tổ Văn của em.
- “Cây ngay không sợ chết đứng”. Em cười rất vô tư.
Thanh tra về, rất nhẹ nhàng, đưa lich dự giờ cả tuần, không có tên em, em gặp chị giáo viên là thanh tra thắc mắc:
- Chiều mai em có tiết? Sao chị không dự?
- Em cứ dạy đi nha, chiều mai chị bận rồi.
Chiều đó em cũng dạy bình thường, vì tiết đôi nên em không ra khỏi lớp, trống tiết ngồi giữ máy (em hay dạy giáo án điện tử dù không dự giờ). Trống vào tiết, tự dưng cả lớp đứng dậy. Em ngạc nhiên “Ủa, mình ngồi trong lớp sao các em lại chào?”. Ngước lên, nhìn thấy cô thanh tra bước vào lớp, em ngỡ ngàng nhưng vẫn thực hiện tiết dạy như đã thiết kế. Mặc dù bị động nhưng tiết dạy của em vẫn được xếp loại giỏi. Sau khi góp ý, cô thanh tra nói:...

07/10/2021 lúc 10:07
1
. - Thằng quỷ, mày khá lắm! – Bác sĩ Trương Đình Hùng âu yếm nhìn vào khuôn mặt rộng bản, có cặp lông mày cong cong một cách nho nhã và đôi tai to như tai Phật của nhà văn Lưu Ngọc Tuyến – “Thức tỉnh” là cuốn tiểu thuyết thứ hăm lăm của mày, phải không? Hăm lăm cuốn, bình quân mỗi cuốn năm trăm trang! Chữ nghĩa đâu trong đầu mà tuôn ra lắm thế không biết. Tao rất tự hào có thằng bạn nối khố xuất chúng như mày!
- Thôi đi Hùng ơi! – Nhà văn dở cười dở mếu – Tao đang khốn nạn đến mức này mà mày còn… còn…
- Khốn nạn được như mày thì khối người quyền cao chức trọng, bạc lắm tiền nhiều thèm nhỏ dãi! – Bác sĩ vân vê hàng ria mép ngạnh cá trê, hất hàm – Này, bây giờ đã vào Sài Gòn chơi với tao được chưa? Cách đây hai năm, mày đã hứa, bao giờ cuốn “Thức tỉnh” ra lò, mày sẽ chơi xả láng một thời gian, nhớ không?
- Nhớ chứ. Nhưng mà…
- Lại còn “nhưng mà…”. Nói là mời mày vào chơi, kỳ thực, tao muốn đưa mày vào Sài Gòn chữa bệnh. Chẳng lẽ mày không tự biết, so với thời gian trước, thì hiện tại, da dẻ mày nhợt nhạt, mặt mũi mày hốc hác đi nhiều sao? Biết hả? Nếu biết thì vào trong ấy khám xem mắc bệnh gì?
- Chậc! Vẫn chỉ di chứng mấy căn bệnh tao mắc hồi còn ở bên Lào ấy mà. Bao giờ trầm trọng quá, tao nhờ tay y sĩ trên trạm xá xuống tiêm cho vài phát là ổn. Thời gian này tao ngại nhất là đến các trung tâm y tế, dễ bị bới béo ra bọ. Ngộ nhỡ các nhà thông thái nọ phát hiện tao mắc một thứ bạo bệnh gì đó thì... hết hơi.
- Trời hả? Giả sử mắc bạo bệnh như ung thư chẳng hạn mà biết chính xác để lo chữa trị chẳng hơn là mù tịt, ngồi chờ chết sao?
- Nếu đã bị bệnh ung thư thì biết chính xác để làm gì? – Nhà văn vẫn cãi bướng – Thà cứ bán tín bán nghi còn có năm mươi phần trăm hi vọng an toàn, chứ đã toạc móng heo, biết chắc lưỡi hái tử thần lửng lơ trước mặt, thì hồn vía đâu mà lo công này việc nọ. Trong khi đó tao đang muốn tập trung tinh lực để viết cuốn tiểu thuyết mới mà tao rất yêu thích.
- Thì ra vì thế đấy! – Bác sĩ Hùng la lên và biết chắc lúc này dù có bị buộc dây vào cổ mà kéo, nhà văn cũng chẳng thể vào Sài Gòn với mình được.
Trương Đình Hùng với Lưu Ngọc Tuyến là bạn cùng xóm, hai nhà chỉ cách nhau một con hói nước đục lờ nhờ có chiếc cầu khỉ bắc qua. Hồi nhỏ, hai đứa từng mút chung một chiếc kẹo kéo mẹ cho, cắn chung một quả ổi hái trong rừng; từng giang nắng đỏ đầu đi bắt châu chấu cào cào nuôi chung một con chim sáo; từng học cùng lớp cùng trường từ cấp một đến hết cấp ba. Chớm tuổi thanh niên chẳng biết trời xui đất khiến sao đó mà Hùng với Tuyến trúng tuyển nghĩa vụ quân sự một lúc, được biên chế cùng đơn vị tác chiến, xông pha trên các mặt trận B2, B3. Mãi đến tết Mậu Thân 1968, Hùng bị thương được chuyển ra Bắc; còn Tuyến thì được thăng lên chức đại đội trưởng, dẫn quân qua Lào giúp bạn tiễu trừ bọn phỉ Vàng Pao. Hai người tạm thời mất liên lạc với nhau từ bấy. Sau hòa bình thống nhất, Lưu Ngọc Tuyến có năng khiếu văn chương, đã chọn nghề cầm bút làm nguồn sống chính. Trương Đình Hùng, tuy đã “tam thập nhi lập”, vẫn miệt mài ôn tập, thi đỗ vào trường Đại học Y Dược, ra trường với chức danh bác sĩ, được điều vào công tác tại Sài Gòn. Tuy cách xa nhau hàng nghìn cây số, hai người vẫn liên lạc với nhau đều đặn. Hùng đặc biệt quan tâm đến việc viết lách của Tuyến. Mỗi lần nhận được tập sách nào đó do bạn gửi tặng, bác sĩ nhảy cẫng lên hò reo như cậu học trò nhỏ nhận được bằng khen, rồi cầm nó đi khoe hết người này, người nọ. Ông cất công vận động vài cây bút phê bình có uy tín viết bài “lăng xê” đứa con tinh thần yêu quý của bạn lên mặt báo. Chưa hết, ông còn tìm đến mấy vị đồng hương cùng tỉnh thuộc loại có máu mặt trong đó quyên tiền ủng hộ nhà văn. Bao giờ gom được một khoản kha khá, bác sĩ làm một chuyến hồi hương, tiếng là thăm xóm làng nội ngoại, nhưng thực chất chỉ để chuyện trò bù khú với thằng bạn nối khố vài đêm. Những lúc đó, dù cả hai này đã ngoại lục tuần, họ vẫn xưng hô mày tao chi tớ như hồi để chỏm, và xem đó là điều vui thích đặc biệt....

07/10/2021 lúc 10:07
Đ
ứa con cả, giám đốc CTTNHH một thành viên nói: “Hình như cha có vấn đề về thần kinh. Con nói mong cha đừng giận. Con đã đi nhiều nước trên thế giới, cũng biết rằng các bà già, ông già cưới nhau là chuyện thường thấy. Đó là phương Tây, là Âu Mỹ, nhưng đây là Việt Nam. Ở làng quê mình chưa có chuyện ông già, bà già sắp xuống lỗ còn cưới nhau. Cha đã từng dạy chúng con: Học tập nước người phải chọn cái mà học. Có cái ở nước người là tiến bộ nhưng ở nước ta không phù hợp hoặc chưa phù hợp. Con nghĩ, ông già, bà già cưới nhau ở Việt Nam, chí ít, ở làng quê mình là chưa phù hợp. Cha cưới vợ, cả làng rồi cả tỉnh dị nghị. Ở trong cái nhốn nháo mỉa mai ấy, chúng con làm thế nào mà sống được.”
Đứa con trai thứ, càng căng thẳng hơn: “Con không hiểu cha lấy vợ để làm gì. Con trai, con gái, dâu rể, cháu, đề huề. Người có hiếu, người chăm sóc cha không thiếu. Người già như cha không còn có nhu cầu tình dục. Trên bảo dưới không nghe tình dục cái nỗi gì. Cái bà già bán nước ấy nữa, người khô quắt, lưng sắp còng, mắt sắp mờ. Cha cứ khen: bà ấy pha trà ngon. Con thì không thể ngồi vào đấy, uống nổi một ly. Tự nhiên bây giờ, bà ấy còm còm, lù lù, về sống ở cái nhà này, chịu chi nổi.”
Ông muốn nói với con: “Không được hỗn với cha. Không được chê người khác khi chưa hiểu họ”. Nhưng ông không thể nói xen vào được. Chỉ mới nghe ông nói đúng một câu: “muốn cưới bà bán nước chè chén làm vợ” là chúng nó đã hoảng hốt, đã nhao lên phản đối. Chúng nó vốn lễ độ, luôn nhã nhặn với cha, nhưng bây giờ không đứa nào chịu nghe ông nói thêm một câu, đủ biết trong lòng chúng, sự phản ứng mạnh mẽ đến ngần nào. Đứa này chưa dứt lời đứa khác đã lên tiếng. Dứt khoát không là không!
Con dâu cả nói như muốn kết luận: Già rồi, không cưới xin gì hết. Nếu cha lấy bà ấy, tất cả chúng con sẽ bán nhà lên thành phố, để cho mấy cái mặt này sạch tro, sạch trấu.
Đứa con dâu thứ, xưa nay có tiếng là bép xép còn mang nội dung cuộc họp gia đình phổ biến ra cả làng. Hắn bình thêm: ”Ông già đờ người không nói được một câu. Cưới hi? Cưới chi mà cưới, con cháu nói cho xấu hổ, cưới cái cổ tích.”
Thế mà chuyện diệu kỳ đã diễn ra. Ông và bà già bán nước chè chén cưới nhau. Con cháu, dâu rể ông đã về đầy đủ. Chúng ăn mặc sang trọng và rực rỡ như đi hội hè. Những ông cụ, bà cụ xung quanh, đều mặc trang phục lính, huân chương, huy chương, kiêu hãnh trên ngực. Chúng vui vẻ, tươi tỉnh, chào hỏi cô bác, bắt tay người này, cám ơn người khác. Cô dâu lắm lời còn nói: “Chuyện tình như của cha chồng cháu, đời này làm gì có. Hôm trước cháu có nói rứa hi? thì chỉ thấy đơn giản, ông già lấy bà già, buồn cười”. Đứa con cả thưa: “Các bác đã đăng cai tất, cháu chỉ xin thuê một cái rạp hoa trên tỉnh, cho nó lộng lẫy”. Ông hội trưởng hội Cựu chiến binh, khi tại ngũ là chính ủy trung đoàn nên mọi người vẫn quen gọi là ông Chính ủy, lắc đầu: “Chú mày yên tâm. Lễ cưới này hội Cựu chiến binh và hội Cựu thanh niên xung phong cùng phối hợp tổ chức, thống nhất theo phong cách lính. “Kịch bản” có rồi, không thay đổi. Chú mày sẽ nhìn thấy cái rạp cưới có một không hai trong thời đại này.”...

07/10/2021 lúc 10:07
T
ốt nghiệp ra trường, Thường về nhận công tác tại một đơn vị quân đội đang đóng quân ở một thành phố miền Trung. Theo dư luận, thì Thường thuộc vào hàng sỹ quan có tuổi đời trẻ nhất, được đào tạo bài bản, chính quy nhất, ngoài ra anh còn có thêm đôi chút “râu ria” đi kèm là khỏe mạnh, thông minh và khá bảnh trai. Con đường phía trước của anh - cũng theo dư luận - còn rất dài và còn rất nhiều tương lai. Nghĩa là ở anh đã quy tụ được tương đối đầy đủ những phẩm chất cần thiết cho một sỹ quan quân đội trong tình hình hiện nay.
Thường không mấy quan tâm đến những tán tụng, bình phẩm có ý “thêm thắt” rất chi là lính của anh em trong đơn vị. Anh chỉ thấy mình là người may mắn. Và cuộc đời, dẫu không thiên vị, cũng luôn mang đến cho anh những niềm vui bất ngờ. Thường vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cả bố lẫn mẹ trước đây cũng từng là lính, lại là lính chiến hẳn hoi. Bố Thường hồi còn công tác đã từng đeo quân hàm thượng tá, làm đến chức chủ nhiệm hậu cần sư đoàn. Đồng đội ông hồi đó phần lớn lăn lộn, trưởng thành trong chiến đấu, có người đang tại ngũ, trở thành những tướng lĩnh và hiện đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong các quân, binh chủng. Ngay lớp chiến sỹ của ba Thường ngày ấy giờ có người đã là chính ủy, trung đoàn trưởng, thậm chí có người đã là chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Ngay từ khi đang học phổ thông, Thường đã có ước mơ sau này được trở thành sỹ quan phục vụ lâu dài trong quân đội. Vì thế anh đã miệt mài học tập và đã thi đỗ vào một trường đào tạo sỹ quan. Rồi khi ra trường, Thường lại được điều động về công tác ngay chính tại đơn vị ngày trước của bố anh. Và người chỉ huy trực tiếp của anh bây giờ, không ai khác, mà là một trung tá còn rất trẻ, từng là chiến sĩ của bố anh trước đây.
Hồi còn ở nhà, Thường cũng đã yêu. Nhưng tình yêu hồi ấy, nói như văn thơ sách vở, thì đó chỉ là thứ tình yêu “hoa lá bướm cành” cho vui. Nghĩa là chỉ yêu theo cảm tính, yêu mà chưa xác định một tý ty gì cho tương lai. Mẹ anh động viên: “Chuyện ấy con hãy học hành cho đến nơi đến chốn rồi hẵng tính sau. Con trai bây giờ phải tuổi hâm, thậm chí hơn thế xây dựng gia đình vẫn chưa muộn”. Còn bố Thường thì bao giờ cũng khề khà cười bảo: “Tao với mẹ mày ngày trước ở chiến trường có biết tuổi tác là cái gì. Lúc mười tám đôi mươi thì bám trụ ở chiến hào, đạn dưới bom trên, cái sống cái chết không có phân định, ranh giới. Được cái lúc nào cũng lạc quan yêu đời, coi thường cái chết và xem đó là sự hy sinh vì mục đích và lý tưởng của cuộc đời. Rồi đến khi mẹ mày và tao gặp nhau thì cả hai đã ngoài ba mươi. Đấy là tao mới chỉ nói là gặp và yêu nhau thôi, chứ để thành vợ thành chồng có được anh em chúng mày thì phải đợi đến khi miền Nam giải phóng. Nghĩa là lúc ấy mẹ mày và tao cũng đã băm mấy tuổi rồi”. Theo như bố mẹ kể lại thì tình yêu của bố mẹ hồi ấy tuy điều kiện chiến tranh, bom đạn, nhưng cũng tình cảm và đẹp lắm! Mẹ là nữ lái xe Trường Sơn, đã gặp và yêu bố trong những lần vận chuyển lương thực vào chiến trường. Tình yêu của hai người ròng rã năm này qua năm khác chủ yếu qua những lá thư viết vội gửi cho nhau. Còn gặp nhau thì mỗi năm họa hoằn lắm mới có một lần. Có lần để gặp được mẹ, bố đã phải băng rừng vượt suối, đi bộ gần nửa ngày đường trong điều kiện máy bay địch oanh tạc dữ dội mới đến được chỗ mẹ giao hàng. Nửa ngày cho một chuyến đi, nhưng chỉ được ở cạnh người yêu có vài tiếng đồng hồ để rồi phải chia tay trở về đơn vị ngay trong đêm cho kịp ngày mai làm nhiệm vụ. Kỷ luật chiến trường hồi ấy rất nghiêm khắc. Và cũng không ai dám trái lệnh chỉ huy. Lại có thời kỳ do tin đồn thất thiệt, rằng người này hy sinh, người kia hy sinh mà rồi bố mẹ vẫn vững dạ chờ nhau cho đến ngày đất nước thống nhất. Tình yêu thời chiến tranh có thể nói đẹp hơn bất cứ lúc nào. Và đẹp nhất vẫn là những chuyện tình của lính. Nghĩ thế và Thường lại nhớ đến Hiền. Giờ này ở nơi xa Hiền đang làm gì nhỉ? Cô có biết rằng lúc này đây anh đang nhớ đến cô không?..

07/10/2021 lúc 10:07
T
hằng Đờ! Anh bạn thợ săn có cái hai lỗ mũi hứng nước mưa thường gọi tôi như thế. Thằng Đờ, gã săn khỉ là tiểu sử thứ hai của tôi. Thật ra tôi cũng không biết tiểu sử thứ nhất, một thầy giáo quê lúc nào cũng đạo mạo, áo trắng cổ cồn cài nút tận cổ tay, mới là tư cách làm người của tôi hay chính tiểu sử thứ hai này, một gã săn khỉ đầy mưu mô mới là chân dung thật của mình. Đôi khi tôi ước mình đừng dính dáng gì đến gã săn khỉ, dù chỉ trong mơ, nhưng thật khó để chạy trốn, nó là loại tiểu sử ám, một góc khuất đầy những bóng ma và nặng nề khí âm, là mâm chén bát lạnh tanh đêm ba mươi, là sự thôi thúc đến quýnh quíu khốn nạn của cái dạ dày lép xẹp, là âm mưu rách thêm chút nữa, tả tơi không còn chỗ tả tơi của chiếc áo duy nhất vốn đã chua khoắm trên cơ thể. Loại tiểu sử cha ăn mặn con khát nước, con ăn mặn cháu khát nước, tổ tiên ăn mặn đời đời chắt chít khát rã họng rã hầu. Loại tiểu sử có khả năng dựng đầu con người ta dậy giữa đêm bởi một mùa đông xa lắc xa lơ nào đó.
Bướm đầy trời. Chẳng đợi đến tháng ba mùa sâu nở, mới cuối chạp mà bướm đã đầy trời, những cánh bướm vàng mỏng như cánh bông mai vàng, mai trắng chập chờn, như tro tàn giấy bay mộng mị, như tuyết rơi, như mây rã. Tựa như có ai đó trên trời vừa mở cửa đổ cả vương quốc bướm xuống khu rừng khộp núi Đền. Bướm sa vào mặt. Bướm vướng gót chân. Bướm chui vào nách kín, túi rỗng. Bướm bám đầy nóc lều. Căn lều chẳng ra hình dáng gì, na ná khối chóp tam giác méo mó, từ một tấm bạt màu xanh dương cũ kỹ căng chéo, chằng đụp mà thành, bên ngoài phủ lớp chà lá mỏng và những cánh bướm đổ bóng lỗ chỗ, những vùng sáng chết lịm, những đốm tối nhảy múa kỳ quái. Lòng căn lều như lòng bếp nướng, nhiệt độ xung quanh so với thân nhiệt chênh lệch quá lớn nên bao nhiêu nước trong người chực tuôn ra bằng hết. Hai cái xoong trong góc méo mó, đen nhẻm khép nép cạnh đống bao lưới, dường như mọi vật đều héo co lại trong cái sức nóng khủng khiếp. Ba khuôn mặt mồ hôi nhễ nhại méo mó, lốm đốm xanh dương thập thò nơi ba cái chỗ thủng bằng bàn tay. Ba con người thở thật nhẹ, nói thều thào, đái rỉ từ từ ra một ống tre bắt sẵn, bữa ăn không chén đĩa đũa muỗng, ăn bóc, cố gắng nuốt tọng cơm và ít muối mè, cố trệu trạo, cố nuốt cả những âm thanh vào trong để tránh lộ hơi hướm, động tĩnh con người. Nén. Nén mình thành một khối co rúm, đầu gối quá mang tai, vai so cổ rụt. Ngay cả việc nghĩ ngợi gì đó cũng không nên vì sợ sẽ mất tập trung trong lúc quan sát. Tịt. Đầu óc đặc sệt, âm u, phẳng dẹt. Con người đang cố gắng che dấu mình, cố mường tượng ra chiếc áo tàn hình biến mình thành cái bóng ma mờ nhạt nhất trong khu rừng khộp này để chứng minh bằng được sự tinh khôn bậc nhất của mình so với các loài ở đây. Quá nhiều lần cuộc đọ trí diễn ra qua cái bẫy bắp, con người đã thất bại, cuối cùng con người đã nghĩ ra việc đánh lừa qua nhiều bước. Dân nghề gọi là chiêu độc. Nói “ăn quen” là nói gọn, đúng ra phải nói là ăn quen nhịn không quen. Ghiền. Sớn sác. Đối với loài khỉ chết vì miếng ăn thì ít khi vì khả năng lanh lợi và cẩn trọng vượt xa các loài khác. Kể cả với con người, cái chết vì lí do tồi tàn này vẫn nhiều hơn. Treo bắp ba lần, lần thứ tư bao lưới tạo ra vùng tử địa rồi mới giật sập bẫy, bắt một lúc cả bầy. Quá tam ba bận, mưu mô được thực hiện đến bốn bước thì ngay cả đối tượng có giác quan thứ sáu thứ bảy còn phải chịu đưa đầu vào rọ, huống chi. Nhưng ở đời mọi chuyện đều không đơn giản. Miếng ăn là miếng tồi tàn. Thật sự là tồi tàn...

07/10/2021 lúc 10:07
T
háng chạp, mưa phùn dườn dượt còn gió mùa đông bắc thì thổi thông thống. Làng ướt át, sâm sẫm. Chùa Nàng Hương ngự trên sườn núi Tượng Sơn cách làng con sông Duềnh và một cánh đồng hẹp thì khô ráo, quang đãng. Hoa đại rụng trắng mấy dãy sân gạch rêu phong.
Chùa vắng khách, chỉ mỗi tôi và chị Hoài. Phải đến gần chục năm, nay hai chị em mới ở cạnh nhau. Chị chăm chăm nhìn tôi, cái nhìn thật lạ, hút hoẵm. Bỗng chị thở dài, cúi nhanh xuống, sẽ sàng nhặt những bông hoa đại rụng bỏ vào giỏ tre màu nâu sẫm. Chị nói, mỗi ngày một giỏ đầy. Tôi hỏi, nhặt cất làm chi? Chị cười buồn, nói là chẳng để làm chi cả, nhưng lâu rồi, mấy năm rồi nhặt vậy, thành quen. Tôi không hỏi gì thêm. Tiếng giỏ tre miết trên sân gạch lạt xạt khiến bầu yên tĩnh bốn phía chung quanh thêm vẻ bí ẩn.
Ngày chị lên chùa tôi còn ở chiến trường. Hết giặc tôi về, mẹ tôi nói, giọng buồn không chịu được, chị Hoài đi tu rồi. Tôi không tin vào tai mình, hỏi mẹ bảo sao? Mẹ tôi lén lau nước mắt, giọng gần như những tiếng thì thào: Bom rơi trúng vào nhà, chẳng còn ai chờ nó về. Anh Ninh (anh em sinh đôi với tôi, giống tôi như hai giọt nước) cũng nằm lại trong rừng không về. Nó lẻ loi, nó cô đơn quá mà. Tội nghiệp, đi đông, về tây, bom đạn chừa ra mà phận làm vậy? Hôm ấy, tôi thập thững lên núi Tượng Sơn. Thấy chị mặc bộ quần áo nhà chùa rộng thùng thình, lòng tôi nhói đau, chợt nhớ dáng vẻ chị ngày xưa. Ngày xưa chị thon thả, xinh đẹp, nhanh nhẹn làm sao. Tôi vét hết lời trong gan ruột bàn chị hoàn tục. Chị nhìn những ngón tay của mình đặt hờ trên cái mõ gỗ, nói chú cho chị yên…Cho chị ngày ngày cầu cho anh Ninh theo nẻovề cõi Trời… Xong, bỏ tôi đứng lại một mình, đi vào điện thờ.
Lần này gặp chị tôi không nhắc chuyện cũ, không nói gì về anh Ninh, cũng chẳng hiểu vì sao nữa. Khi cánh cửa lim nặng nề dửng dưng khép lại sau lưng áo màu vàng, tôi rùng mình, dón chân giữa những bông đại trắng đi ra cổng, xuôi theo con đường mấp mô bậc đá xuống sông Duềnh. Cữ nước cường, sông mênh mông. Hoa bần tung nhuỵ như những cái kim khâu đỏ màu máu bay lăm răm khắp nơi. Bến đò có ba bậc đá, rêu viền chung quanh, ngọn rêu vật vờ trong nước xanh nom buồn thiu. Người chèo đò là chị Ngọc, đi Thanh niên xung phong cùng đợt, chiến đấu trong cùng một đơn vị với chị Hoài. Nghe kể, chị Hoài bỏ làng lên chùa được một năm thì chị Ngọc bỏ nhà xuống sông, thay mẹ chèo đò ngang. Ba khoang thuyền có một khoang được che chắn kín đáo làm nơi ăn, ngủ cho chị. Một lần, chị Ngọc nói với tôi, bao nhiêu là người người đến luỵ tôi để sang sông, cơ mà đến nay vẫn không có thằng đàn ông nào ở lại thuyền. Chị cười, tiếng cười nghe sao mà đắng đót.
Tôi đứng ở bậc đá thứ hai. Chị Ngọc ở bờ bên kia, quay thuyền. Khuôn ngực ngồn ngộn, phập phồng của chị bặn lên tay chèo. Mũi thuyền cập bậc đá thứ ba, khựng lại. Chị gác chèo lên mạn thuyền, găm sào tre rồi đứng chạng chân trên sạp gỗ, ưỡn cái bụng lùm lùm, vui vẻ nói với tôi là đã có một người đàn ông ở lại trên thuyền mấy ngày đêm. Áp tết, chị sẽ lên chùa nhờ sư Hoài cầu an. Tôi nói, mồng 5 tết mới lễ cơ mà. Chị bảo, biết thế nhưng chị lên trước để có thời giờ cùng chị Hoài ôn chuyện xưa cũ. Chị bát mạnh thuyền, ngửa mặt nhìn đâu đó giữa khoảng không, nói nay lên chùa không còn phải lủi thủi một mình nữa mà hai mẹ con, hai mẹ con nhé…Tôi nói, mừng cho chị nhiều. Nói xong thì chạnh buồn, nhớ chị Hoài se sắt.
Chị Ngọc nhìn tôi, bỗng nói, giọng như trách cứ, chú và anh Ninh giống nhau quá thể. Lặng một lúc lại nói rừng Trường Sơn mênh mông làm vậy biết anh Ninh ở chỗ nào, hở trời?
Tôi bỗng thấy lòng buồn nẫu và một ám ảnh tội lỗi day dứt. Con thuyền đến giữa sông, gió nhẹ, không có sóng nhưng chẳng biết vì sao nó cứ chòng chành, chòng chành…
Hiện tại
26°
Mưa
16/04
25° - 27°
Mưa
17/04
24° - 26°
Mưa
18/04
23° - 26°
Mưa