
16/08/2022 lúc 10:53

07/10/2021 lúc 10:07
''C
him kơnia bay tới nghiêng cánh chào Đakrông...'' nhạc sĩ Tố Hải thật giỏi, bởi ai nhìn dòng sông Đakrông mà không muốn thốt lên tiếng hát từ trái tim mình. Dù là những ngày mưa như trút, dòng sông đỏ ngầu phù sa nước dâng tràn, ầm ào cuộn chảy về đất bạn, về phía dòng sông Mêkông, hoặc khi nắng hè đổ lửa, nóng ong ong ngột ngạt tưởng như khô cong cả lá rừng bởi ràn rạt rất gió Lào.
Đã bốn mùa mưa nắng rồi Trần Ngọc không nhớ bao nhiêu lần mình đã xuyên rung, ngược xuôi trên Đường 9 huyền thoại. Song dù nắng, dù mưa khi chạm mặt với dòng sông Đakrông thì Ngọc và công nhân trong đội lại hát:'' Chim Kơ nia bay tới...'! Nhưng dõi mắt lên bầu trời cao rộng trong xanh giữa núi ngàn mênh mông vẫn không một lần được nhìn thấy cánh chim yêu thương... .
Mỗi lần ngồi nghỉ giải lao, hay ăn vội bữa cơm trưa công trường dưới tán cây rung không đủ che bóng mát, Ngọc có một cảm giác rất lạ, lòng anh cứ thầm hát: '' Mẹ già cuốc đất trồng khoai nuôi con đánh giặc tháng ngày...!' Mảnh đất khắc nghiệt và những bà mẹ thuỷ chung, thương tiếc người anh ruột đã hy sinh và nỗi đau của mẹ. Những năm tháng làm công nhân nhà máy Điện Hà Nội anh khao khát được trở về.
Rồi Ngọc được về với quê hương, nhưng không được nắm bàn tay chai sần, nhăn nheo của mẹ, không được nhìn thấy bàn chân đen đúa cả đời người vùi trong cát nóng, không được thấy dòng sông Bến Hải êm đềm trong xanh giữa hai bờ Hiền Lương với câu hò dịu dặt, thôi thúc nối đôi bờ cho hàng triệu con tim, không được tìm dấu vết xương thịt trong từng nắm đất của o du kích nhỏ với lời nói nhỏ nhẹ thân thương trong gió biển chiều: Anh đi hai năm em đợi?
Trần Ngọc phải cùng đơn vị hành quân xuyên dọc Trường Sơn, vượt qua đầu nguồn dòng sông quê hương vào với chiến trường Đường 9 Nam Lào. Đồi 500 là trận đánh một thắng mười của đời anh. Vậy mà bây giờ anh không xác định được nó nằm ở đâu. Nó bị chìm lấp giữa bạt ngàn núi rừng đang hồi sinh mà anh cùng đơn vị phải dùng rựa phát từng nhánh cây, bụi gai và lau sậy phóng tuyến.
Vậy đó, đường dây điện chỉ được nhìn thẳng, đi thẳng, dù phía trước là đồng lầy, rung rậm, núi cao, vực thẳm hay dòng sông chảy xiết. Dù đá như gang, như thép, từng hố móng phải được đào lên đúng kích thước, chỗ đã đóng cọc đánh dấu , xuống lòng sông sâu, bám từng bậc đá chuyển lên từng xô nước, trộn, xách từng xô xi măng, chui rung đến từng hố để đổ móng cột. Cột điện cao thế phải được dựng lên, kéo, căng đường giây. Và dòng điện phải đi đến đích cuối cùng. Đó là sự vất vả của anh và những người thợ điện.
Dòng điện kéo dài đi muôn nơi, ánh sáng được bừng lên trong xa xăm những làng quê hẻo lánh, là niềm vui rộng mở trong gian lao đẫm mồ hôi và nước mắt.
Lần này đưa lưới điện ngược Trường Sơn lên vùng kinh tế mở Lao Bảo, sang tỉnh Sa Vẳn Nạ Khẹt và vùng lân cận của nước bạn Lào, Trần Ngọc ẩn dấu một nỗi niềm riêng mà ngoài Thảo ra, không ai biết được...
Sau chiến dịch Đường 9-Nam Lào, Ngọc được tặng huân chương chiến công, được đề bạt làm trung đội trưởng. Song, điều buồn nhất là không được tiếp tục chiến đấu trên quê hương Quảng Trị, không được tiến dần xuống đồng bằng để dò tìm tin tức người mẹ thân yêu, để được bước chân trên những đồi cát trắng nóng như rang và ngắm nhìn mênh mông biển xanh ngàn trùng sóng gọi. Anh được điều về mặt trận XYZ, trở thành chiến sĩ tình nguyện quân trên đất bạn. Sau này là Sư đoàn 968 trú quân trên vùng đất huyện Lào Ngam thuộc tỉnh Saravan, Nam Lào.
Nếu ở Quảng Trị rừng núi nhấp nhô, mỗi bước đi phải leo lên, trèo xuống , thì ở đây là bạt ngàn rừng cây khộp, bằng phẳng đến lạ kỳ. Mỗi bước đi lúc đầu cứ như muốn chạy. Khí hậu ở đây thật khắc nghiệt, hai mùa mưa nắng rõ rệt. Sang tháng tư sau tết '' Bun hốt nậm '' là mưa suốt cho đến tháng mười, lúc đầu là những ngày dài sáng mưa chiều nắng. Rồi đến sáng nắng chiều mưa, tiếp theo là đêm nào cũng mưa. Mưa từng cơn trắng rừng, ầm ào, dữ dội. Sự ăn ở, đi lại vô cùng khó khăn, mặt đất lúc nào cũng ngập bùn, lầy lội Sông suối không cầu phà, khiêng chuyển thương binh, gùi gạo là nỗi nhọc nhằn của người lính. Sợ nhất là muỗi , nhiều như trấu vãi, lì lợm bám theo người, khi đi cố vung vẩy hai tay xua đuổi, nhưng muỗi vẫn bám được, cắn tím đỏ cả mu bàn tay. Rồi những cơn sốt tưởng như vắt kiệt sức người, ai cũng gầy guộc, da xanh rớt nhăn nheo và rụng tóc. Cậu Mới quê Gio Linh đang đứng với Ngọc mặt bỗng đỏ phừng phừng run rẩy rồi vật ra chết ngay. Dù chưa có những trận đánh nhưng từng trung đội, tiểu đội vẫn có sự đau buồn chia ly. Những nấm mồ hiu quạnh phủ lá rơi đầy. Từ tháng mười một đến tháng ba năm sau là mùa nắng, mặt đất, đường đất cứng rít khô nhanh, sông suối cũng dần cạn nước, rau quả không có. Giữa mùa nắng lá khộp to tròn từ xanh chuyển sang màu vàng, sang đỏ rồi buông cây lìa cành. Cái nắng chói chang được thể chụp xuống rừng cây không còn lá, nóng hừng hực, ngột ngạt, người lính tưởng như hết hát, hết cười nổi. Song là mùa ta bung ra, địch co lại. Ngược lại mùa mưa là mùa địch có thế mạnh, chủ động mở các trận tấn công càn quét. Và kỷ niệm sâu sắc, nỗi buồn thẳm sâu đeo đẳng suốt đời Ngọc là cái bản Bốn Nhà.
Vâng! Cánh lính không ai nhớ được tên bản, quen gọi là Bản Bốn Nhà....

07/10/2021 lúc 10:07
G
ần cả tuần nay, ở cái chợ nhỏ bên sông, mọi người cứ bàn tán xôn xao về sự xuất hiện một người đàn bà. Người đàn bà đó khoảng ba lăm, bốn mươi tuổi, quần áo rách bươm, tơi tả để lộ cả bộ phận kín đáo của phụ nữ. Tóc tai bà ta bù xù, trước ngực đeo tòng teng một con nộm bằng rơm, miệng lúc nào cũng huyên thuyên: “Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân…”- Nàng Kiều đẹp đến nỗi hoa ghen liễu hờn, nàng Vân cũng đẹp những mây thua tuyết nhường... Đời là bể khổ, đàn bà “Hồng nhan bạc phận”, có phải không mấy chị em? Nói xong, bà ôm lấy con nộm đung đưa và hát: "Gió mùa thu mẹ ru con ngủ, năm canh dài thức đủ vừa năm..." Những giọt lệ tràn ra, chảy dài thành sợi trên khuôn mặt nhem nhuốc nhưng toát lên những nét hài hòa. Bà có đôi mắt buồn rất đẹp, ánh mắt ấy như đang chất chứa một nỗi sầu u uẩn. Giọng nói bà ấm áp và hát ru truyền cảm đến lạ kỳ. Lượt người vào chợ mỗi lúc một tấp nập. Có người nhìn bà thương hại, tò mò đứng lại nhìn. Dăm ba kẻ tỏ vẻ khó chịu, hằn học ra mặt.
Cứ mỗi tháng bà ta vất vưởng ở cái chợ này thì có ba ngày những người ở chợ nhất là buôn bán đồ ăn, thức uống phải khổ sở cùng bà. Bà ta mang cái mông nhầy nhụa một thứ nước màu đỏ, chảy loang lổ xuống cả hai chân, gặp ai cũng đứng lại bắt chuyện. Mọi người đang ngồi ăn nhìn thấy bà ta chỉ muốn nôn thốc nôn tháo và bỏ chạy...

07/10/2021 lúc 10:07
K
im Liên mất chồng năm hai tám tuổi do tai nạn giao thông. Vì quá xa xôi, đi lại khó khăn trong mùa mưa bão nên những người xấu số trong vụ lật xe ấy đã phải nằm lại nơi đất khách quê người giữa rừng sâu. Thắm thoắt đã mười lăm năm trôi qua. Thằng con đầu của Liên đã tốt nghiệp đại học, vừa xin được việc làm, còn con bé em cũng đã lớp cuối cấp phổ thông; và mái đầu người mẹ trẻ năm nào giờ đã chất chồng sợi bạc. Mái tóc ấy bạc vì tuổi tác thì ít, mà vì bao nhiêu lo toan, vật lộn với cuộc đời của một người mẹ đơn thân nuôi con giữa thành phố trăm thứ không trông mong bấu víu vào đâu được ngoài đồng tiền tự tay mình làm ra. Thời gian đầu lúc chồng mới mất ai cũng tưởng Liên suy sụp nhưng cô đã gượng dậy được mà động lực là vì tương lai hai đứa con. Kim Liên suy nghĩ mình có thể kiệt cạn sức lực, trí tuệ cho công việc nhưng hai con phải được học hành, no đủ. Rất may đó là một cô giáo dạy Toán cấp trung học phổ thông khá giỏi. Những năm ấy phong trào học thêm nổi lên nơi nơi; Kim Liên tranh thủ mọi thời gian đêm, ngày nghỉ, các mùa hè để dạy thêm và cô kiếm được tiền không những đủ nuôi con mà còn sửa được nhà cửa khá khang trang.
Kim Liên là con một của một gia đình liệt sĩ chống Mỹ. Bố Liên, một cán bộ chính trị trong quân đội đã anh dũng hi sinh tại chiến trường hồi đầu năm bảy mươi, lúc đó Liên vừa lọt lòng! Thiếu cha, nhưng Kim Liên lại có một người mẹ đảm đang, rất mực thương con…Có lẽ cái gen ấy của mẹ đã để lại cho Liên sau này để cô trút hết tình cảm cho hai đứa con khiến chúng lúc nào cũng no đủ, sung sướng, vui tươi đúng như câu thiên hạ nói “Ở với mẹ ăn cơm với cá”...

07/10/2021 lúc 10:07
1. Sách cũ chép, ngày xưa có con đường Thiên Lý nối vùng đất này với các miền xa ngái đàng ngoài, đàng trong. Đường qua bao nhiêu là sông, là suối nhưng không có cái cầu nào. Người, vật đi lại bằng cách gì, sách không ghi. Nói là sách cũ nhưng là những mảnh giấy người thời nay viết. Người thời nay bỏ quên nhiều chuyện riêng gì chuyện cầu qua sông. Họ không hiểu ra thì họ cho không nhớ. Không có lợi cho thời họ sống thì họ cho quên.
Đến năm nào ấy, trên đường Thiên lý, bấy giờ dân chúng gọi đường quan, có cầu Giằng bắc qua sông Giằng ở làng Giằng. Cầu Giằng một nhịp, đúc bằng xi măng và đá, kết thành khối lặng câm, đầy vẻ nín nhịn. Chiến tranh, bom đạn chém chát chúa lên mặt cầu, máu tràn trên nền xi măng chảy tong tong xuống sông, rồi trăm ngàn cơn bão lụt, cầu Giằng vẫn trơ ra, im lìm. Bao nhiêu là nước đã chảy qua. Bao nhiêu là người đã đi qua. Đến nay, cái tuổi của nó đã phải viết bằng ba con số. Sự già nua là màu đen và rêu mốc loang lỗ khắp thân thể. Nó thành vật chứng kiến vô tư và trung thực mọi sự diễn ra ở làng Giằng. Cái sự chứng kiến thật có ý nghĩa với không ít dân chúng; bởi vì, số người ấy luôn có cảm giác lo sợ, bất an trước sự hiển hiện của những thứ họ từng biết, kể cả trong thể xác và tâm hồn họ.
2. Nhà người đàn bà ấy nằm trên một doi đất mọc đầy dứa dại, cách sông Giằng vài chục mét. Ngôi nhà khung tre, vách đất, lợp tranh cọ, không giống một nhà nào trong làng. Ngày cũng như đêm, mở cửa là mắt chạm vào cầu Giằng. Từ xửa xưa, cố nội chị từ miệt rừng xuôi theo sông Giằng kiếm sống bằng nghề bốc vác thuê. Rồi cố nội chị thành phu xây cầu Giằng. Cầu xây xong cố nội chị ở lại với một cô gái làng Giằng làm nghề chài lưới. Cố nội chị nói: “Rừng nó âm u, nhiều cái ác rình rập, sống thắc thỏm cả đời nên tôi muốn ở lại với chị.” Cô gái làng chài buồn buồn nói: “Tôi chưa lên rừng, chẳng biết nó thế nào. Nhưng không khéo ông tránh vỏ dưa thì lại gặp vỏ dừa. Chốn sông nước, cái giả dối như trong, đục của nước ấy.”. Cố nội chị nói: “Chỉ cần lòng dạ chị không đổi thay”. Rồi họ về ăn ở với nhau trên một con thuyền gỗ mộc, đáy thuyền dày những lớp trảm. Thuyền cứ lênh đênh trên sông. Hai đời, đời cố và đời ông của chị ở dưới gầm cầu, đánh cá, vớt gỗ, ăn uống, làm tình, sinh đẻ trên thuyền. Ông nội mất, cha chị găm thuyền vào chân cầu rồi lên bờ dựng một ngôi nhà này. Mẹ chị đẻ rơi chị trên lối ngõ dốc xuôi ra dãy bần ven sông và ném nhúm nhau xuống gầm cầu Giằng. Cái tên Rơi thành tên cúng cơm của chị từ đâu ra chẳng có ai quan tâm. Từ cái tên gọi. Từ cái nhúm nhau mắc vào chân cầu. Và một mối quan hệ bí ẩn giữa Rơi và cầu Giằng như là định mệnh. Trong nhiều câu chuyện của người đàn bà độc thân, đều có bóng dáng cầu Giằng. Tất nhiên là lúc đậm, lúc nhạt và cũng tất nhiên có những câu chuyện khác về cầu Giằng không dính tới chị. Là vậy, nhưng khi nói về cầu Giằng giọng chị cũng cứ run rẩy và ánh mắt u buồn với một cảm giác tuyệt vọng nào đó...

07/10/2021 lúc 10:07
T
iếu.
Một từ dễ gợi cho người ta liên tưởng đến sự vui nhộn, hài hước. Nhưng thực ra chẳng có sự hài hước, vui nhộn nào ở đây cả. Đó - đơn giản là một cái tên. Tên của một người phụ nữ. Là mẹ của thằng bạn học chung trường mẫu giáo với tôi. Nhà nó cách nhà tôi vài con ngõ cộng thêm dăm lần ngoặt lên ngoặt xuống.
Tôi hiếm thấy có người phụ nữ nào trông khô khỏng, xơ xác như cô. Hai xương ức dô cao một cách quá đáng, để lại hai hõm sâu hỏm ngay phía trên bộ ngực mỏng manh. Đó luôn là điểm đầu tiên tôi bắt gặp ở cô trong mỗi lần gặp gỡ. Chẳng phải vì tò mò hay hiếu kì. Đơn giản vì lúc nào cô cũng xuất hiện trước mắt tôi với tư thế hoặc cúi, quỳ, hoặc ngồi xổm với cái cổ vươn dài ra phía trước. Cái xương ức ở những tư thế ấy dễ “bắt mắt” nhất, khuếch đại nhất. Cô, những lúc xuất hiện ấy, hoặc nhẫn nại kì cọ để lau bằng được vết mực thằng con làm vãi trên sàn. Hoặc nhẫn nại gỡ chiếc áo len cũ ra đan lại. Hoặc lọ mọ xới lại đám đất nhỏ bằng hai cái vạt quần trước nhà, tăng gia ít rau thơm (sạch) cho chồng nhấm nháp - với rượu; dĩ nhiên, kèm theo khi thì lòng lợn tiết canh, khi thì đĩa dồi chó. Có khi chỉ là mấy lá húng kẹp ... ớt (!) để đưa đẩy với rượu. Một bữa nhậu tĩnh lặng.
Giá một lần cô xuất hiện hòan chỉnh trước tôi (tôi gọi là hoàn chỉnh khi người nào đó đứng đàng hoàng trước mặt mình) thì có lẽ ấn tượng về cặp xương ức kia không quá đậm nét đến thế.
Phóng.
Là tên chồng cô Tiếu, tức bố thằng bạn học chung trường mẫu giáo với tôi. Một bức tranh tương phản: cổ dày nung núc, hai cái đùi bè bè. Rất thích uống rượu với ớt, dĩ nhiên, thêm vài cọng lá thơm vợ tăng gia. Vừa uống rượu vừa lừ lừ nhìn vợ, nhìn con, nhìn bạn của con. Chẳng biết nhìn để làm gì nhỉ? Nhưng rất đáng sợ.
Tôi bảo thằng bạn “Khi nào bố mày ở nhà, mày treo cái quần đùi ra ngoài cổng cho tao biết. Tao đéo thèm vào đâu”
Thằng bạn bảo: “Kệ, sợ đếch gì. Tao nối dõi, dám làm gì”
Tôi cùn bảo: “Mày chắc à?”
Nó lừ lừ mắt nhìn tôi. Chẳng rõ muốn gì? Nhưng rất đáng sợ...

07/10/2021 lúc 10:07
Q
uê tôi ở một tỉnh trung du phía bắc, nơi có những rừng cọ, đồi chè, từng một thời đi vào thơ ca nhạc họa. Để đến bây giờ sau mấy chục năm “cất bước theo chồng về xứ lạ”, chỉ cần nghe ai đó nhắc đến câu thơ này thôi là trong lòng tôi đã lại trào dâng một nỗi nhớ thương da diết về mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Thời con gái, tôi yêu anh Mừng là bộ đội xe tăng đóng quân ở làng tôi. Anh Mừng năm ấy gần ba mươi tuổi và đã là một sỹ quan trưởng xe. Tuy hơn tôi gần chục tuổi, nhưng trông anh vẫn rất trẻ. Anh lại có một thân thể khỏe mạnh và cường tráng, đúng với mẫu đàn ông mà tôi hằng ao ước về người bạn đời của mình. Đám cưới của hai chúng tôi do gia đình tôi và đơn vị anh đứng ra tổ chức. Nhà trai do điều kiện thời chiến, lại xa xôi, nên không ai có mặt. Tuy vậy nhưng đám cưới vẫn rất vui. Đặc biệt là tôi và anh Mừng rất yêu nhau nên khi thành vợ chồng thì chúng tôi sống với nhau rất hạnh phúc.
Sau đám cưới, trong một đêm nằm bên nhau, chồng tôi có bàn với tôi là sau này sẽ đưa tôi về sống cùng với gia đình anh ở một tỉnh miền Trung. Tôi chưa một lần đến quê anh, nhưng nghe anh kể thì tôi biết quê anh cũng là vùng nông thôn nghèo khó như quê tôi vậy. Chỉ có điều là xa, rất xa. Thuyền theo lái, gái theo chồng, tôi nghĩ vậy nên đồng ý ngay. Tuy nhiên đó mới chỉ là lời bàn, còn đi hay không và bao giờ đi thì chúng tôi vẫn chưa ấn định được thời gian cụ thể. Thế rồi chỉ sau đó không lâu, đơn vị chồng tôi có lệnh hành quân gấp vào chiến trường. Lệnh đến từ chiều hôm trước thì đến tối hôm sau đã lên đường. Dù bất ngờ, nhưng anh cũng kịp sắp xếp để đưa tôi cùng về quê với anh. Vậy là tranh thủ luôn được chuyến xe. Thủ trưởng đơn vị anh đồng ý cho tôi cùng đi, vì đằng nào khi vào chiến trường xe cũng ngang qua đấy. Với lại có vợ đi cùng, chồng tôi còn được đơn vị cho nghỉ thêm hai ngày để đưa tôi về tận quê. Thế là dù phải gấp gáp ra đi, nhưng chúng tôi vẫn có những giây phút mặn mà bên nhau. Và anh, điều may mắn hơn cả là được gặp lại quê hương, người thân một lần cuối trước khi vào chiến trường...

07/10/2021 lúc 10:07
N
hững bước đi như chạy, thật dài. Những bước đi đểnh đoảng như bơi trong không gian, như mười năm nay mới lại được đi. Hành lang nhà tù đầy ắp tiếng kêu gọi, tiếng cười, tiếng khóc, mừng tủi. Cửa khám mở tung, các buồng giam mở tung, xiềng xích đã bị phá tung.
Tự do rồi. Tự do đến thật rồi. Xung quanh chỉ toàn đồng chí, những khuôn mặt thân yêu võ vàng mờ tỏ, những đôi vai so gầy ốm yếu, những đôi mắt thâm quầng chứa chan hy vọng. Đồng chí, đồng chí, các đồng chí chúng ta ơi, tôi ơi, tất cả ơi.
Khoảng trời mùa hạ xanh vời vợi, xanh tới vô cùng. Đất đảo nóng ran như vừa được hun thêm lửa. Rặng bàng bên đường xòe tán rộng, đàn vạc vỗ cánh rào rào trong lùm lá.
Bao nhiêu lần chúng đã giải anh đi con đường này, bao nhiêu lần bàn chân rớm máu của anh cảm thấy mặt đất nguội lạnh như đá. Chỉ có trái tim anh là nóng. Những ngày ấy chỉ có trái tim là vẫn sống nguyên vẹn, nó đập, nó thở và nó nâng bước cho anh.
Biển xanh đến nhức mắt. Những đợt sóng trào lên bờ đá, tung bọt. Bao nhiêu đêm anh đã lắng nghe tiếng sóng vỗ ngoài này, trằn trọc không sao chợp mắt nổi. Muỗi như trăm ngàn mũi kim độc ác châm khắp người, xà lim buốt thấu xương, bốn bức tường vắng lặng. Tiếng giày đinh của tên lính gác gõ lộp cộp bên cửa sổ hẹp. Tiếng sóng, tiếng sóng ào ào dội tới anh, vuốt ve anh, mài sắc ý chí anh.
Không phải một mình anh, các đồng chí của anh cũng đang đi ra bờ biển. Mặt người đều sáng hồng lên, ngời ngời...

07/10/2021 lúc 10:07
T
án gẫu đúng là vô bổ. Những ông bố, bà mẹ thường đe con đang ít tuổi:
- Chỉ có mất thì giờ với những chuyện ba lăng nhăng. Họ nói cũng có lý nhưng kể ra không phải là tất cả. Tôi đã gặp một buổi tán gẫu thú vị ở những người đã lớn tuổi.
- Tán gẫu thường là không có chủ đề tập trung. Anh nói chuyện này người nói chuyện kia, cốt để cho vui khi rảnh rỗi. Cũng có lúc hăng lên, nhất là khi có chút mồi, chút rượu, thậm chí có lúc choảng nhau vì một ý kiến bất đồng. Rượu vào, lời ra, hình như lúc ấy mọi sự thật được phơi bày. “Trà tam” thì không nói nữa, là tâm tình, là thanh nhã, sâu lắng, “rượu tứ” thì dễ sinh chuyện, mà chắc cũng là để can nhau nếu có ai nổi cơn thịnh nộ, cho nên ít có người uống rượu một mình, vì biết “lời ra” với ai! (Trừ nhà văn, nhà thơ – xin lỗi nếu không chính xác!)
- Vùng tôi là một vùng sâu, xa giới tuyến. Thời chống Pháp thì thanh niên đi bộ đội nhiều, và tham gia du kích dân quân. Nhưng sau đến thời Mỹ - ngụy do chúng bắt lính, nên có nhiều ngụy binh, bởi vì cũng khó cho lớp thanh niên, không phải ai cũng đã hiểu được cách mạng, hay thoát khỏi vùng kìm kẹp của chúng. Hơn nữa, cha anh họ phần lớn đã đi tập kết, và ngọn lửa cách mạng chưa phải đã giữ nguyên mạnh mẽ được.
Chính vì thế mà sau giải phóng thống nhất đất nước, lớp ngụy binh đông đảo ấy đã trở về làng làm ăn sinh sống. Họ thành những người công dân bình thường vì họ cũng là những nông dân từ trước. Họ lại gắn chặt với ruộng đồng, cưới xin, giỗ chạp cùng bà con, làng xóm, bạn bè. Có dịp thưa việc đồng áng, cũng bù khú chén chú, chén anh – con người mà! Còn một số có chút chức quyền, sĩ quan thì đã tách sang Mỹ với cái mác H.O. Số đông ra đi cũng là bất đắc dĩ, nhưng những năm sau này, họ cũng trở về thăm viếng quê cũ, kể cả giúp đỡ bà con dòng họ khó khăn. Không quên gốc là quý rồi. Cho nên cũng không đáng kể một số ít bất mãn, hám tiền, nên từng tìm lối vượt đất, vượt biển!...

07/10/2021 lúc 10:07
T
hị xã những ngày sang hè nóng nực như chảo bắp rang. Ai giỏi chịu đựng lắm cũng không khỏi thốt lên một câu chửi đổng trời: “Nắng chi nắng dữ rứa ông?”. Căn phòng của vợ chồng Sanh nằm khuất sau hẻm, bao quanh là những ngôi nhà cao chắn hết gió. Muốn tìm một chút gió trời chỉ có chạy ra ngoài đường chính, nơi ấy hai bên vỉa hè sẵn những gốc bằng lăng vào kỳ xanh lá.
Nắng quá ăn không nổi, không thèm ăn. Người ta kêu ca lên vậy. Kêu thì kêu, thời tiết vẫn bám vào cái ngưỡng bốn mươi độ xê. Không ăn nổi hay không thèm ăn nhưng chắc chắn vẫn phải ăn. Nghĩa là người ta chẳng thể bỏ dở công cuộc kiếm cơm của mình. Sanh cởi áo ra vắt sau vai ghế. Hắn mặc độc một cái quần đùi mà nãy giờ mồ hôi chảy xuống ướt hết viền lai quanh chỗ thắt lưng. Đánh vật với chữ. Nói nghe có vẻ bạo lực. Nghề văn vốn tao nhã, người xưa bảo luyện chữ. Nhưng giữa thời buổi kinh tế thị trường, chữ nghĩa là tiền. Ai ai cũng viết, từ những người được đào tạo bài bản về văn chương đến kẻ rỗi rãi viết chơi đều muốn có tên trên mặt báo. Viết để bán lại càng khó, phải viết cho hay mới chen được vào một phần “đất” trên báo. Như thế không đánh vật thì là gì?
Hôm qua biên tập viên một tờ văn nghệ địa phương gọi cho Sanh, bảo chú có cái truyện nào mới viết gửi cho anh đăng vào số này nhé! Gửi gấp, ba ngày tới phải có đấy. Sanh OK ngay không lưỡng lự. Viết một cái truyện để đăng báo tỉnh không quá khó, cỡ trên dưới hai ngàn chữ hắn gõ một tối là xong ngay, chỉ cần một ý tưởng nào đó lóe lên là đặt tay lên bàn phím gõ thôi. Nhưng đấy là chuyện ngày Sanh còn sinh viên, còn từ bữa lấy vợ, chữ nghĩa cứ rủ nhau trốn đi đâu mất. Nhiều khi ngồi cả buổi chẳng gõ hết một trang giấy. Hắn nhớ lại lời khuyên của ai đó. Rằng trong mọi nghề thì có vợ có chồng chung tay mới nên, riêng nghề văn ngược lại. Có gia đình rồi khó viết lắm. Sự cô đơn làm nên nghề văn. Viết là lúc yên tĩnh được đẩy lên cao độ, cần một không gian và phải có cảm giác mình bị bỏ rơi giữa sa mạc. Khát khao, muốn uống ực một ngụm chữ, thèm tìm thấy con đường dẫn về đích, giống như nhà văn muốn lần đến một cái kết khiến người đọc sung sướng thỏa mãn...

07/10/2021 lúc 10:07
S
áng, chiều nào cũng vậy, ông ngồi ở vườn “thượng uyển” sau biệt thự. Biệt thự của ông có hai mặt tiền. Phía trước đại lộ thành phố, phía sau đường ô bàn cờ. Vườn nhà ông có ba tầng hoa lá, trên cao là hoa cổ thụ, tầng trung là hàng chục loại phong lan quý, tầng trệt cúc, mai, địa lan… Tất cả đều là báu vật. Chậu mai “ngàn mắt ngàn tay” kia là quà tặng của phó phòng nghiệp vụ trước ngày lên chức trưởng phòng. Giò phong lan ngũ sắc là của một hiệu trưởng xin kéo dài tuổi về hưu lên một năm nữa. Cây hoa sữa là của ông già phường Năm xin cho con vào nghề. Bộ bàn ghế đá trắng là của trưởng phòng tổ chức, được sản xuất ở làng chạm khắc đá Ngũ Hành Sơn. Bộ ấm trà cung đình ông đang dùng là của một người cha xin cho con chuyển dạy từ miền núi về thành phố. Một con rồng uốn mình quanh ấm, cái đuôi cong vòng thành quai, cái đầu há ra thành vòi, men sứ ủ lửa trăm năm nhiều màu sắc. Vườn cảnh của ông ngăn cách với lề đường bằng một bức tường lửng, nối cao lên phía trên là hàng rào mắt cáo bằng lưới thép B40. Chỉ có một cánh cửa sắt nhỏ thông ra đường đủ lối cho một người đi. Ngày ông còn đương chức, cánh cửa chỉ mở mỗi khi có họp kín với một tay chân thân cận nào đó. Từ ngày về hưu đến giờ cánh cửa chỉ đóng im ỉm vì chẳng ai bấm chuông.
Ông ngã người trên chiếc đệm mút Japan êm ái nhưng lòng không yên ổn. Sự cô độc đến với ông đột ngột như một cơn gió mát bất ngờ bị hai cánh cửa phòng sập lại, chặn đứng. Khi quá thừa thải sự dịu ngọt của tiếng người ông thích tiếng chó, tiếng chim. Bây giờ khát tiếng người tri kỹ, ông lại chán chúng. Ông cần tiếng người tâm sự chứ không phải tiếng ư ử, chít chít. Bà osin không hiểu vì sao những con vật ông chăm bẵm là thế, bây giờ dứt khoát dắt khỏi, xách đi, trước khi ông ra vườn uống trà, ngã người trên ghế mút. Hôm nay ông pha ấm trà cuối cùng của gói trà “Bạch tuyết núi đá thắt cổ bồng” do một đệ tử đi tham quan Trung Quốc mang về tặng...

07/10/2021 lúc 10:07
V
ĩnh gọi cho tôi “Tịnh sinh con trai rồi! Sơn Ý, Sơn Ý!... Anh có lỗi với em”. Tôi cứng cỏi “Anh nói vậy không thấy có tội với đứa trẻ à! Gắng chăm sóc tốt cho chị Tịnh và cháu”, tôi dập máy nằm vật ra giường, khóc ròng.
Bây giờ tôi lại nằm đung đưa trên ghế mấy cũ, hút shisha và nhả khói lên giỏ mười giờ đang đơm nụ. Nắng rụt rè lan đến đầu gối tôi. Tôi sẽ trở về nơi ấy để nhìn mặt đứa bé xem có giống Vĩnh không? Tôi sẽ ra sông giặt tã và tiêu khiển bằng cách ngắm đàn cá mương nhảy lên đớp nhẹ vào ngón tay? Ở Chili đang là mùa mưa. Tôi sẽ đốt vỏ bưởi, lá vằng, gừng và lá khế để xông cho mẹ con chị Tịnh? Tôi sẽ thức để xoa lưng cho thằng bé nếu nó ọ ẹ suốt đêm? Không. Tôi chẳng việc gì phải về lại Chili, cái lâm thôn ẩm ướt và tẻ nhạt ấy.
Tôi xếp đặt luôn tất cả những thứ cần thiết vào ba lô, với một đôi giày ấm áp ở bên đặt bên cái ghế mây rồi chẳng hiểu mình làm thế để làm gì. Tôi vừa bước chân ra phố thì trời nổi dông, tối sầm lại. Tôi cố đi thật nhanh và ào vào nhà trước khi mưa tới nhưng rồi khựng lại. Bên cánh cổng gỗ sơn màu xanh lá có mái che rộng, một đôi trai gái đang quấn chặt lấy nhau. Căn nhà tôi ở nằm trong vùng nguy hiểm. Cổng hơi thụt vào trong, những thân cây leo chăng kín làm cánh cổng gỗ thấp lụp xụp càng tối tăm. Tôi đành quay ngược trở lại, kéo ghế ngồi trú mưa trong quán bánh xèo. Quẳng cái điện thoại vào ngăn kéo đầy bánh tráng, bà cô bán bánh nhướng mắt về tôi “Mưa quá nên khách cũng vãn, em gái nhỉ? Đợi tạnh rồi chị chỉ cho một chỗ, nghe nói làm ăn được lắm!”. Ô! Thế ra người ta tưởng tôi là điếm. Bé con Sơn Ý của chị Tịnh lại bị người ta tưởng là một con điếm. Chị tôi sẽ buồn biết bao!...

07/10/2021 lúc 10:07
K
hi không tôi lại nhớ về hình ảnh đó. Một buổi chiều khói vương lên trên nền trời xanh ngắt. Ba ôm tôi trong vòng tay nhìn mẹ đi về phía cuối con đường. Ở đó, tôi vẫn nghe tiếng cười mẹ vọng lại. Cái ngữ đàn ông như anh trên thế gian này dễ có mấy người, đàn ông bất lực ngay cả trên giường ngủ mà cũng giành nuôi con bé. Nó đâu phải là con anh.
Còn nhớ khi ấy tôi khóc, không phải vì mẹ ra đi hay ba ở lại, cũng không phải chuyện đàn ông đàn bà trong thế giới của những người lớn tuổi như mẹ, như ba. Tôi sợ đám khói bốc ra từ đụn lửa buồn heo hút. Ba đem tất cả những vật dụng có chung hai tiếng vợ chồng ra đốt. Một chiếc chiếu ba mẹ dùng mấy năm nay, cái gối đôi có hình hai con bồ câu nâng trái tim hồng lên trên một cái nền hoa tím. Rồi quần áo của ba, cả cái quần đùi ba cũng đem quẵng vào lửa. Lúc ấy lòng ba chắc đã cháy rồi, ngùn ngụt với lửa hận và yêu. Nếu không có tình yêu chắc mắt chiều ba không buồn đến vậy, sau này ánh mắt đó thoảng tỉnh từ giấc mơ. Ba gọi Hương ơi rồi nằm sấp người xuống chiếu. Kiểu này là ba hận chính mình nữa rồi, ba hận người đàn ông không thể quên đi người đàn bà phụ bạc ngay cả trong giấc ngủ. Lúc đó tôi thấy người ba dài ra, tóc ba rối bời và cánh tay ba dài nghi ngút. Nhưng rồi không với tới được chân trời hạnh phúc. Mầu khói đắng ấy vương vào chiều như bức màn tình yêu chuyển sang mầu hoang nát. Tôi cũng nghe chiều cựa quậy những nỗi đau tôi, một đứa con có cha thì mất mẹ. Một đứa bé có mười mấy tuổi đầu đứng nhìn hạnh phúc tan vào mây. Và nữa, tiếng cười của mẹ cứ bám riết tôi suốt một con đường người...

07/10/2021 lúc 10:07
T
ôi có người hàng xóm mê đánh cờ. Lão bảo: Phải coi đây là chiến trường vì nó có đủ: Sông ngòi, quân tướng, xe pháo, ngựa voi. Bởi vậy không nên để trong nhà mà phải mang ra đầu ngõ, nơi có bóng râm, gió lộng. Dù pháo nổ ầm ầm, vó ngựa khua chan chát, quân lính reo hò ầm ĩ thì cũng không ảnh hưởng đến ai.
Thế là chiều nào cái ngõ của xóm tôi cũng đều tấp nập đông vui. Thực ra trong thôn cũng có mấy bàn cờ nhưng thua xa bàn cờ của lão. Lão kể về lai lịch của nó: Ngày kháng chiến chống Pháp lão là Vệ quốc quân. Lão làm y tá, chức vụ tiểu đổi trưởng. Đơn vị lão đóng quân tại một vùng dân tộc Mường ở Thanh Hóa. Ngôi nhà sàn của trưởng bản rộng rãi. Đàn bà ngủ trong buồng. Đàn ông và lính tráng nằm trên sàn rồi kéo chăn trùm kín đầu mà ngủ. Một đêm sau phiên gác lão lên sàn gọi người thay ca. Lão gãi gãi vào một cái đầu bù xù:
- Dậy! Dậy!
- Sao lại phải dậy?
- Dậy đi gác
- Sao lại phải gác?
- Ơ! Đồng chí này lạ nhỉ? Đồng chí tên gì?
- Tôi tên là ông chủ...

07/10/2021 lúc 10:07
B
a người ngồi khá lâu trước các vạt muống biển đang ra hoa mùa này từ lúc bóng nắng đổ trên ngọn dương đến lúc bóng nắng chếch dần sang doi cát áp biển. Từ lúc có một màu tím rực như dải thảm miên man hoa nở đến lúc những nụ hoa bắt đầu úp cánh với màu trắng đặc trưng của nó khi dần về đêm. Tháng 5 mùa này, hoa đã nở để đón những đợt gió nồm nam đi ngang, đi dọc nơi vùng đất có nhiều doi cát chạy dài đến sát chân núi Đá Bia với những cụm đá lô nhô cao thấp mọc tràn loại cây dủ dẻ cùng gai mắt mèo đan dày ngút ngát.
- Uống nghe Xuân. Người đàn ông có mái tóc bạc nhất trong ba người đang nghiêng chai rót rượu ra ly cho người đối diện.
- Lại vào mùa hoa muống biển, lại về với một ngày... Người đàn ông tên Xuân lẩm bẩm rồi với tay vào ly rượu và ngửa nhẹ cổ.
- Uống nghe Nam và rót cho Lâm.
Đó là kiểu uống đặc trưng của người miền này, cứ xoay vòng khắp lượt như gió nồm nam đổ từ biển vào, cuộn tròn đập qua mũi Điện rồi thốc tháo quay ngược sang Vũng Rô cuốn tung bụi cát vừa ngột ngạt oi nồng, vừa hanh hao rát bỏng. Gió cứ đến và đi, hoa muống biển cứ mùa gọi mùa qua bao tháng năm đổ xuống dãy Thạch Bi Sơn.
- Ngày mai đến thăm Hiên trước há…-Xuân bảo hai người...

07/10/2021 lúc 10:07
N
goài phố, trong lốt áo Viên ngoại, Ngài đã tuyên bố: “… ta cũng không sợ vợ”. Chiều về đức Vua còn nghĩ như vậy. Nhưng chính lời tuyên bố: “ta cũng không sợ vợ” của Ngài đã dội lên chính tâm thức của Ngài gây nên một cuộc tự rà soát lại các khả năng: Phản ứng; Kiềm chế; và Thụ động… Các tình huống từng đối mặt, các hình thái xử lý… cuối cùng Ngài đã nghi ngờ chính điều đã tuyên bố.
Khi vừa bãi triều, Ngài hồ hởi bước và cung Tam phi, tìm sự thoải mái bình yên bên người phi đẹp như tiên nữ để mong tạm quên đi, tạm lắng dịu những giây phút căng thẳng trước bao nhọc nhằn của công việc triều ca, trước các quan Đại thần, trước các bản tấu. Ngài ao ước nhận từ bàn tay ngọc nữ của Tam phi chén rượu ngọt hương tình ái, tràn đầy, rơi vải xuống mặt hồ, từng gợn sóng xua đuổi lẫn nhau như cuộc đuổi bắt của thèm muốn, của khát khao rung lên rưng rức nhiều cung bậc, rộn ràng ngân lên, dội lên, trào lên niềm xúc cảm ngây ngây, vừa dạt dào, vừa dịu êm, vừa hỗn độn… Ngài cảm nhận cánh bướm cợt đùa bên hoa làm xao động lên làn da rân rân hột ốc…

07/10/2021 lúc 10:07
M
ắt trắng dã thôi miên. Nanh trắng hếu đe doạ. Trời trồng người đàn bà dưới ánh trăng xanh mờ ảo. Đầu tiên là những sợi sắt cong vẹo, rồi cái lỗ trống hoác hiện ra, lệnh từ não truyền liên tục nhưng chân vẫn bất tuân, bất động. Bỗng một vệt tối sầm như trời sập. Con báo hất ngã ngửa người đàn bà thân không manh vải. Khối đen đè tấm thân trắng nõn. Nanh phập phập vào mặt nạn nhân. Bập! Rựp! Âm thanh lạnh toát xương sống ấy phát ra chính là cái kết thúc ghê rợn mà con báo dành cho người đàn bà, nó đã đớp phát tợp hết khuôn mặt. Mi rậm cong, mũi dọc dừa, đoá hoa môi luôn mang nụ cười hàm tiếu… phút chốc chỉ còn vốc thịt lẫn máu đỏ lòm. Người không còn mặt dồn sức tàn vồng nẫy lần cuối rồi cái đầu máu ngoẹo qua. Máu phun xì xì như vòi nước nén để tưới phong lan, những vòi máu phì phì yếu dần, yếu dần, vũng máu dày lên, duềnh lên, lan ra, lan ra…
Nhận chức hạt trưởng mới được nửa năm, Tuân đột ngột trở thành một con người hoàn toàn khác lạ, từ tính cách, lời ăn tiếng nói, thái độ hành xử như người nhà trời... Và khác lạ hơn hết là Tuân cho xây thành lũy dày cao bọc quanh vườn nhà mới, ngôi nhà mà Tuân vừa tạo cho vợ bé và người mẹ già đã lú lẩn của mình. Trên toàn bộ mặt tường, Tuân cho làm lồng sắt phủ kín, chỉ thiếu cái hào sâu bên trong giống y lũy thành căn cứ địa xưa, nhưng lính tuần bên trên được thay bằng một thứ khủng khiếp hơn cả lính tuần của bất cứ thời đại nào. Một buổi sáng, người ta nghe từ chiếc lồng sắt ấy mấy tiếng kêu lảnh lói, dân làng ngước cổ, không ai tin vào mắt mình nữa: Một con báo gấm hai mặt dị kì, hai miệng, hai mũi, hai mắt, bốn cặp nanh, thân hình dài hơn thước đang trườn thoăn thoắt trên lũy thành. Con báo thấy người dừng lại, nhìn. Kinh hoàng, người người im thin thít, chết đứng, biết là trong lồng sắt nhưng với con báo hai mặt đó, những sợi sắt tám đan dày trên tường chỉ là những sợi cước mỏng manh. Điếng. Lặng. Vì đi từ hướng nào, đi đến đâu họ cũng thấy mấy con mắt trắng hếu của con báo hai mặt nhìn chằm chằm vào mình, họ ù té chạy bỏ cả gùi, bỏ cả rựa. (Nghe đâu con báo đột biến gien đó là do kiểm lâm bắt được của bọn buôn thú rừng, nhưng Tuân đã giữ lại nuôi)...

07/10/2021 lúc 10:07
M
ạ nói, thằng Văn đi như thế cũng đã được sáu năm rồi, tình nghĩa con dành cho nó mạ thấy không mấy ai bằng, bây chừ có người nào thương yêu thì con cứ nhận lời đi...
Mưa không nói như mạ mà vẫn ngậm ngùi buồn thương, dăng dăng từ cửa sông Linh vào, trắng xóa. Biển, gần thôi, ầm ào sóng dội dưới bầu trời chưa được thắp sáng. Màu trắng của mưa, màu trắng của cát và có lẽ cả màu trắng của những ngọn sóng vỗ bờ nữa đang hòa trộn vào nhau, nao nao trắng, trong nỗi thổn thức của người góa phụ tuổi ba mươi.
Dạ, mạ cứ để từ từ cho con nghĩ, bên con đã có mạ, có thằng Hiếu và cả chồng con nữa...cũng ấm áp lắm rồi. Con chẳng muốn gì hơn, chỉ thương mạ ngày một già yếu thêm, thằng Hiếu mồ côi cha sớm quá. Trà từ tốn trả lời mạ rồi bước đến bàn thờ thắp mấy nén hương cho người đã khuất. Người trong ảnh thờ là một thiếu úy hải quân có khuôn mặt hiền từ, nở nụ cười nhỏn nhoẻn. Trần Văn. Đôi mắt anh như muốn nói với Trà một điều gì đấy, chân chất và trìu mến như từng đã chân chất và trìu mến với người vợ trẻ của mình...

07/10/2021 lúc 10:07
T
ôi không ưa tính cách của người phụ nữ ấy nhưng hoàn cảnh buộc tôi phải cắp cặp đi theo.
Tôi - một nhà văn được đào tạo hẳn hoi ở trường viết văn Nguyễn Du, một thời vang bóng, có nhiều truyện, nhiều thơ, nhiều bài báo góc cạnh. Không hiểu sao mấy năm gần đây chữ nghĩa bỏ tôi chạy mất dép. Tôi chán đời, chán cả bản thân. Ôi, cái ngiệp văn chương, không buồn, không vui, không cả lòng trắc ẩn làm sao có tác phẩm?
Sáng nào cũng vậy, 7 giờ sáng mọi người phải có mặt ở cơ quan để đọc báo, chấm công rồi ai về phòng nấy. 9 giờ sáng, không ai bảo ai tất cả đều lục tục ra bàn uống trà. Đây là lúc cao điểm của mọi ý tưởng.
Cơ quan tôi thuộc dạng lấy thu bù chi. Thu chủ yếu là tờ báo. Mỗi tháng một kỳ, tiền thu về không đủ để trang trải. Đồng tiền nhuận bút còm cõi đến mức cộng tác viên chán viết, tờ báo ngày càng vắng bóng cây đa cây đề. Tội nghiệp nhất là bộ phận phát hành, đôi khi như đi ăn xin. Những giám đốc thân thiết với cơ quan chúng tôi thì dễ dàng, nhưng với những nơi khác được họ đặt mua báo thuờng xuyên bộ phận phát hành phải tốn bao công sức. Tội nghiệp cô Hoa, mỗi lần xong việc, cô ấy về mồm cứ ngoai đi ngoai lại đến chục lần ”Em phải thể dục không thì sái cả mồm. Các anh, các chị có cách gì không chứ đi phát hành kiểu này em không còn sức nhai cơm được nữa”....
Hiện tại
26°
Mưa
16/04
25° - 27°
Mưa
17/04
24° - 26°
Mưa
18/04
23° - 26°
Mưa