Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 04/08/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bút ký

Những ngày bên anh Hoàng Phủ

03/12/2013 lúc 09:01






N





hà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường là người anh khả kính của anh em văn nghệ Quảng Trị. Từ những ngày làm tạp chí Cửa Việt, anh đã vun trồng cho vườn cây văn nghệ quê nhà tốt cành xanh lá.Nhiều nhà văn nhà báo đã trưởng thành từ quê hương ra đi và họ đã làm nên chuyện ở nhiều vùng đất khác ít nhiều cũng có âm hưởng về phong cách, lối tư duy khúc triết của anh. Tình cảm của anh dành cho quê hương nặng sâu trong trái tim nồng nàn của một con người đầy nhân hậu.
Cứ đọc bút ký của anh , chúng ta sẽ thấy ngồn ngộn hình ảnh, sắc màu quê hương thấm đẫm trong từng trang viết. Anh dùng cây bút xiên ngang vào tim giặc vì tội ác gây ra cho mảnh đất quê nghèo khó mà hết mực ân tình. Anh ngợi ca lòng quả cảm của những chàng trai cô gái chân chất , bình dị can trường trong lửa đạn. Anh nhớ hương sả, hương chanh trong nồi xông của mẹ Gio linh khi anh cảm gió. Anh nhớ trái dưa hồng mọng nước nằm trên trảng cát trong những ngày hè bỏng nắng. Anh nhớ và anh nhớ nhiều lắm ! Mỗi bước đi lên của anh em văn nghệ đồng hương anh đều rõi mắt trông theo và khấp khởi vui mừng...

Bay theo những cánh diều

12/12/2013 lúc 21:04

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
(thơ Đỗ Trung Quân)





N





ắng đã ươm lên một màu đỏ chói, nghe văng vắng đâu đây tiếng động khẽ của mùa hè bật lên dưới những đóa hoa tulip xứ tuyết.  Ở làng chắc đang vào vụ gặt, gió tháng ba phây phẩy thổi một chút xao xuyến đồng đất quê nhà. Bỗng nhiên, nhớ! Một cánh diều chéo xém qua khoảng trời tuổi thơ tôi.
Ai dăng mắc ngọn gió trời cho chiều trĩu xuống một thảm màu xanh? Ở đó, cánh diều tuổi thơ tôi mười mấy năm cứ phấp phới bay theo từng ngọn khói đồng. Ông nội tôi nhóm lửa đột thứ rơm rạ sau mùa gặt, khói bay lên giỡn đùa với cánh diều trên kia. Chú bé tôi ngày ấy thích thả mình với đồng cỏ quê nhà, nằm vất vưỡng trên cánh đồng làng cũng lũ trẻ chăn bò.
Con nít ở làng có lắm trò để chơi. Người nhà quê thì mùa nào thức nấy, “đáy đĩa đi nhịp hải hà”. Trẻ con cũng vậy, mỗi trò chơi vào một dịp riêng. Diều thường chơi vào mùa hè. Độ này nắng ráo, gió thổi mạnh, đồng đã gặt xong, trẻ con không phải đến trường nên tha hồ mà chạy nhảy.
Miền Trung từ tháng ba tháng tư là đã có gió thổi mạnh, sang tháng năm thì gió thổi thành luồng. Cái gió quê tôi cứ quấn lấy nắng mà hành hạ cong người ta, thế nhưng lũ con nít thì không ngại, ban trưa đứng bóng vẫn có thể cởi trần trùng trục mà chạy đi dong diều. Khi ấy, mẹ tôi đứng ở trước cây vú sữa nhà dên lúa, sảy từng thúng theo gió, đưa mắt nhìn lũ trẻ chúng tôi âu yếm. Không ai dám trách cái gió ở đây mà ngược lại, còn phải cảm ơn ông trời ấy chứ! Gió thay cánh quạt phe phẩy che cha tôi ra đồng gặt lúa. Vào độ chiều, đang nắng cháy da đầu mà có cơn gió thoảng qua thì mát lịm cả người, mát đến độ có người thốt lên “gió thế này thèm gặt quá bà con ơi!”. Và tôi nghe được những tiếng cười giòn tan trong nắng, vỡ ra trên cả khoảnh ruộng mới gặt...

Miền biên viễn chan hòa ánh sáng

17/04/2014 lúc 14:57






G





iữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, có những sư đoàn chủ lực chốt giữ trên những địa bạn trọng yếu để làm nhiệm vụ… xây dựng kinh tế! Thực ra là nhiệm vụ kinh tế kết hợp quốc phòng – an ninh. Đoàn 37 ở huyện biên giới Hướng Hóa – Quảng Trị là một đơn vị như thế. Ký sự này khắc họa đôi nét khía cạnh khác của hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – người lính thời bình làm kinh tế, xây dựng cơ sở chính trị ở vùng sâu, vùng xa, xây dựng biên giới hòa bình và phát triển trong thời đại hội nhập. Và những câu chuyện đời thường về con người, mảnh đất Trường Sơn huyền thoại…
I. Khi con đường Hồ Chí Minh CNH, HĐH mới đang được triển khai, mùa mưa, việc cơ động từ thị trấn Khe Sanh – Hướng Hóa vào đến trung tâm xã Hướng Phùng làm một điều như không tưởng… Chưa nói đến việc phải vượt qua đỉnh Mù Sương, bản Chênh Vênh để vào tận nơi các đội công tác của Đoàn B37 đang bám trụ để làm nhiệm vụ, thì càng khó khăn gian nan gấp nhiều lần. Hôm đó, chúng tôi được Phòng Chính trị Đoàn B37 ưu tiên bố trí một chiếc xe u oát chở nhóm làm phim với lềnh kềnh máy móc tiến vào Tà Rùng. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy các cán bộ đi cùng lúi húi chuẩn bị giày dép, ủng, ba lô, áo mưa cho cả nhóm. Thắc mắc, đã ngồi ô tô rồi còn chuẩn bị áo mưa để làm gì? Các anh mỉm cười: Đề phòng xe nằm lại giữa đường thì cắt rường cuốc bộ mà điQuả thật sau này đún như vậy. Chiếc xe đã chiến gài hai cầu, ì ạch bò tiến lên từng mét, một ngày hành quân không vượt được quãng đường ba mươi km. Bánh xe quay tròn quá nhiều trong bùn đất, 6 cái bu loong bị lỏng ra, đến lúc văng cả bánh sau ra ngoài mà không ai biết. Thấy bỗng dưng có cái bánh ô tô phóng rần rật xuống dốc, anh em ngồi phía sau hét lên, đồng chi lái xe cứ tưởng chuyện đùa, nhân ga phóng tiếp…

Từ cột mốc số 0 con đường lịch sử

19/01/2014 lúc 23:18






C





ột mốc số 0 đường Hồ Chí Minh lịch sử được xây dựng như một tượng đài sõng sững. Một nét đẹp khoẻ khoắn, oai hùng của lịch sử đất nước gợi lên trong tôi bao niềm cảm xúc. Tân Kỳ nghĩa là mới và lạ. Đó là tính ngữ chỉ những sự vật xuất hiện làm mọi người ngạc nhiên, thích thú. Tân Kỳ trong bài viết này là tên của một huyện vùng núi tỉnh Nghệ An, miền đất của những sự khởi đầu trong lịch sử,cũng là miền đất khởi đầu cuộc sống của tôi... Tân Kỳ là  huyện mới được tách ra từ  huyện Nghĩa Đàn ngày 19-4-1963. Đến  năm 2007 này, huyện Tân Kỳ trßn 44 tuổi! Đó là vùng đất trẻ. Vâng, quê hương Tân Kỳ, tuy còn nghèo nhưng như tên gọi của nó, cũng có rất nhiều sự mới mẻ, lạ lùng, nó chứa đựng biết bao trầm tích của lịch sử. Do duyên phận và nghề nghiệp tôi trở thành đứa con của đất Tân Kỳ, được đến Tân Kỳ rất nhiều lần. Bao nhiêu cái tên rất khó gọi như Cừa, Lạt, Truông Dong, Lèn Rõi, Vực Lồ.v.v.. bỗng trở  nên thân thuộc với đời tôi. 
Sông Con chảy qua đất Tân Kỳ là một con sông rất lạ. Ở đất  Nghĩa Đàn sông mang tên Hiếu, xuống đến Tân Kỳ thành sông Con. Đi hết huyện Tân Kỳ, sông Con bỗng chảy ngược lên vùng núi Anh Sơn thăm thẳm. Đoạn sông ngược này dài trên 60 cây số, mới chịu đổ vào Sông Lam ở Ngã ba Cây Chanh để xu«i về Bến Thuỷ. Hai bờ con “sông ngược” này có rất nhiều sự tích thú vị. Có lần, tôi được nghe một người già kể về Lèn Rõi. Đó là dãy núi chạy dọc sông Con từ  đầu huyện đến cuối huyện Tân Kỳ...

Nơi con sông Hồng chảy về đất Việt

17/04/2014 lúc 15:02






C





ơn mưa trắng trời tháng chín không làm chậm bước chân tất bật, nhọc nhằn của những cư dân miền biên ải cho một ngày mưu sinh nơi vùng đất được mệnh danh là chốn phiên dậu của đất nước. Chỉ có tôi là nhàn tản thả rơi từng bước chân trên cầu Cốc Lếu trong mưa mà ước ao được ngắm một trời hóa gạo tháng ba rực đỏ đôi bờ con sông Hồng. Để mường tượng mình là chàng trai (hai cô gái) dân tộc Giáy thuở đất này còn hồng hoang có thể trong một lần lạc bước giữa rừng gạo bừng nở sắc hoa đã cảm khái reo lên bằng thổ ngữ Giáy “Coóc réo” có nghĩa là cây gạo. Miền đất “Coóc réo” được đọc trại thành Cốc Lếu rồi bây giờ thành địa danh để đặt tên cho chiếc cầu Cốc Lếu qua sông Hồng bốn mùa ngầu đỏ phù sa mà nối nhịp mọi miền đất nước, thông thương qua cửa khẩu Lào Cai sang thị trấn Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam) rồi tỏa đi khắp nước Trung Quốc rộng lớn để mang ngoại tệ về làm giàu cho đất nước. Nguồn ngoại tệ ấy cũng góp phần xây dựng Lào Cai vốn xưa kia có tên là phố Lão Nhai (người Pháp khi đặt chân đến đây đã đọc thành Lao Kay bây giờ là Lào Cai) buồn vắng trong chiều mờ sương lạnh chỉ có loạng choạng móng va của một vài chú ngựa thồ lam lũ từ các châu, huyện xã xôi mang thổ sản xuống núi thành thành phố Lào Cai ngày nay phồn thịnh soi mình kiêu hãnh bên bờ “con sông Hồng chảy và đất Việt"...
 

Tản mạn về một chuyến đi

19/01/2014 lúc 23:05






T





ôi được Tổ chức cho đi tham quan đất nước Trung Hoa cùng một số cán bộ quân đội về hưu. Đây là một sự chiếu cố đặc biệt, ngoài sự mong ước của tôi. Từ ngày rời khỏi quân đội, tôi yên tâm với hai chữ “về vườn”, và tôi về vườn thật với một mảnh đất mà tôi khai phá ở một gốc rừng chồi, một căn cứ cũ trong thời chống Mỹ. Tôi có nghĩ gì đâu đến chuyện tham quan!
Nghe thông báo về chuyến đi, tôi cũng thấy vui về sự quan tâm của Tổ chức, nhưng tôi không thấy háo hức lắm, vì sức khoẻ tôi không bảo đảm cho một chuyến đi xa. Hơn nữa, tôi cũng đã mấy lần qua lại Bắc-Kinh và đã biết một số thành phố lớn trên các nước bạn. Tôi nghĩ: Cũng thế thôi! Đất nước mình cũng có nhiều cảnh đẹp lại mang nhiều truyền thống đấu tranh. Nếu đến được nhiều nơi để hiểu thêm đất nước mình còn hơn là “phóng ngựa xem hoa” trên một đất nước mênh mông như Trung Quốc! Tôi hơi chần chừ. Nhưng có những ý nghĩ làm tôi quyết định “tái xuất giang hồ” khi nhìn thấy sự phấn khởi của vợ tôi…
Không biết duyên nợ gì mà năm xưa “xã” tôi lại “ưng” tôi để chịu khổ làm cái thân “chinh phụ” mấy chục năm trời để chờ một vị “chinh phu” biền biệt không biết ở phương trời nào, với nỗi lòng của người thiểu phụ trong bài “Dạ cổ hoài lang” của Bác Sáu Cao Văn Lầu! Vợ tôi chưa một lần được hưởng niềm vui một cuộc “tham quan”, có chăng là những lần vào tận rừng sâu để thăm cha con tôi! Và mỗi chuyến đi là một lần thử thách! Bà thường ước ao được một lần ra Bắc vào lăng viếng Bác Hồ và thăm các di tích lịch sử tại thủ đô…

Những năm tháng hòa bình sau chống Pháp

19/01/2014 lúc 23:04






C





hưa đầy ba tháng sau ngày hoà bình đầu tiên tôi lên chợ Đông Hà như thường lệ và thấy một tốp cảnh sát. Tất cả đều đội mũ lưỡi trai, áo quần ka ki sáng bóng, dày đen, đeo súng ngắn sệ hông, bao da ngắn, mũi súng thò ra ngoài. Một viên cảnh sát hình như là chỉ huy, tập trung những người đi chợ trong đó có một thằng trẻ con là tôi. Ông ta nói:
- Chúng tôi đại diện cho chính quyền cụ Ngô tiếp quản thị xã này. Từ nay đồng bào phải thực thi mệnh lệnh của chúng tôi.
Tôi tò mò hỏi lại:
- Cụ Ngô và các ông có phải là người Bác Hồ cử ra không?
Viên cảnh sát phì cười:
- Không phải. Cụ Ngô và cụ Hồ bằng nhau. Mỗi người lãnh đạo một nửa nước.
Một người đàn ông đứng sau kéo tôi lui. Người anh gầy (tạng người thường gặp thời đó) mặc một bộ bà bà đen, chân đất. Anh đứng lên đối mặt với viên cảnh sát, nói rất đanh thép...

Thông điệp này đến được bạn tôi không?

19/01/2014 lúc 23:01

Lời B.B.T: Nhà văn Cao Hạnh - Phó Chủ tịch Hội VHNT Quảng Trị kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Việt, là một cây bút trưởng thành từ cơ sở. Để có được cương vị như hiện nay, ông đã từng làm đủ nghề như: Cày ruộng, buôn rắn, bán ếch, phát hành sách báo, viết kịch, đạo diễn..vv.. Nhưng kỷ niệm lớn nhất trong đời văn, đời làm quản lý của ông là những năm ông làm Giám đốc Trung tâm Văn hóa Vĩnh Linh. Đó là những tháng năm thăng trầm, nghiệt ngã, là sự cạnh tranh kịch liệt giữa đơn vị ông và Công ty Chiếu bóng Bến Hải. Giờ đây, sự được mất ông không lấy làm cay cú, ăn thua. Mà tất cả đều trở thành nỗi đau giằng xé trong cõi lòng nhà văn. “Thông điệp này đến được bạn tôi không?” là một hồi ký thấm đẫm chất nhân văn.
BBT xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tác phẩm của ông.





N





ăm 1986 - 1993 tôi làm Giám đốc Nhà VHTT huyện Vĩnh Linh. Đó là những năm đầu tiên Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN. Các ngành các cấp gặp rất nhiều khó khăn. Riêng ngành văn hóa do tính chất lao động đặc thù phải gặp những trở ngại, thách thức lớn hơn. Nhà văn hóa trung tâm chúng tôi có 11 biên chế. Nhà nước chỉ trả lương cho CBCNV, còn mọi khoản kinh phí khác, đặc biệt là kinh phí hoạt động sự nghiệp thì đơn vị tự cân đối lấy thu bù chi.
Với hai nhiệm vụ: Vừa phải hoạt động sự nghiệp, vừa phải tổ chức kinh doanh tạo ra nguồn kinh phí. Hai nhiệm vụ này có một mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau, làm cơ sở cho nhau phát triển. Buông lỏng một trong hai nhiệm vụ là Nhà văn hóa triệt tiêu.
Công tác nghiệp vụ thì chúng tôi quá thành thạo, vì phần lớn anh em đều có bằng cấp và rèn luyện qua thực tế. Nhưng với việc kinh doanh thì chúng tôi thật lạ lẫm...

Thương nhớ Hoàng Sa

17/04/2014 lúc 15:02












 đảo Lý Sơn - huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhiều người già vẫn còn lưu giữ những ký ức, những câu chuyện lưu truyền về một hải đội Hoàng Sa kiêu hùng thuở xưa. Đình làng Lý Vĩnh, cổng làng An Vĩnh rêu phong cổ kính còn cất giữ kỷ niệm những buổi lễ tiễn đưa đoàn thủy binh lên đường ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ, cũng chính là những đứa con trai của làng. Đa số họ đã không trở về. Người già kể, xưa, làng đã lập lăng thờ những người đã khuất, những người đã hiến dâng cuộc sống thanh xuân của mình cho chủ quyền của Tổ quốc, nhưng mấy chục năm chiến tranh loạn lạc, thế cuộc đổi thay, lăng thờ đã trở thành phế tích. Nhưng nhân dân vẫn không bao giờ quên trong ký ức, đến tiết xuân hàng năm vẫn tổ chức cúng lễ nghiêm trang, nhằm nhắc nhở cháu con không được quên công đức của tiền nhân, không được quên Hoàng Sa là một phần máu xương của Tổ quốc. Có câu đối được khắc ghi trong tâm khảm các bậc túc nho của làng: "Ân đức dựng xây miền đảo Lý. Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa".
Lần giở lại sử cũ, Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn viết rằng: "Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp mỗi người sáu tháng lương thực. Họ chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển cả ba ngày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa...

Cồn cỏ, ngày mới

19/01/2014 lúc 22:49






C





ồn Cỏ xa mà gần
“Con đường nào mà thay đổi liên tục và lần nào đi cũng mới?”. Câu hỏi thú vị mà Bí thư kiêm Chủ tịch huyện đảo Cồn Cỏ, anh Lê Quang Lanh đưa ra, khi con tàu gỗ của ngư dân Cửa Việt đưa đoàn chúng tôi ra thăm huyện đảo đang chồm trên sóng trắng của ngày biển “rêm” trước những cơn gió chuyển mùa. Cả thuyền sôi động hẳn lên. Anh Thế, Phó Bí thư Tỉnh đoàn Quảng Trị bảo: Đó là muôn mặt con đường miền núi những ngày mưa trắng trời, trắng đất Quảng Trị ở Hướng Hoá, Vĩnh Ô, Vĩnh Hà... Nhà báo Hữu Thành khéo tưởng tượng bay bổng khi nghĩ đó là con đường trời của mây trôi và những túi khí dằn xóc đổi thay qua mỗi chuyến bay. Vẫn cái cười rất trẻ của một bí thư đoàn ngày nào, anh Lanh chỉ vào những con sóng bạc đầu đang vỡ tung trước mũi tàu cười: “Đó! Chính là con đường đó đó!”. Tất cả cùng “À!” lên. Phải, chính con đường mà hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng đưa người, đưa lương thực, thực phẩm, đưa vật liệu xây dựng, đưa dầu, đưa cả những lá thư đất liền ra đảo là con đường độc nhất vô nhị trên thế giới này thay đổi từng giờ, từng phút, nhưng lại nối gần hơn lòng người của đất liền và đảo nhỏ Cồn Cỏ. Đảo Cồn Cỏ, theo dư địa chí Quảng Trị còn có tên là Hòn Cỏ, Thảo Phù, Hòn Con Hổ. Có diện tích tự nhiên hai trăm hai mươi bảy ha...

Thưởng rượu với Mê-công

19/01/2014 lúc 22:48






M





ặt trời vàng rực phía trái hông xe chạy dọc sông Mê Công. Làn gió mang hơi nước từ vịnh Thái Lan, và cả từ mặt nước sông  phả ào ạt qua cửa kính hé mở.
Sông Mê Công, con sông mà ba lăm năm trước tôi chỉ được thấy thấp thoáng mặt nước loang loáng sau tán lá rừng và có lúc đã dựng lên từng cột nước do pháo nổ, do bom rơi, giờ đây trông  hiền hoà như bao con sông tôi đã từng qua. Mặt sông trải rộng dưới ánh nắng loang loáng soi bóng làng mạc, núi rừng và đôi ba toà nhà cao vút trên nền xanh của cây cối ruộng đồng ở phía bên kia. 
Nước Lào mênh mông là rừng. Quốc lộ 13 chạy suốt từ bắc xuống nam như sợi chỉ xuyên suốt  tấm áo xanh mướt của rừng. Những trận mưa đầu mùa đã kịp phủ màu xanh ngọc lên núi rừng. Xe chạy 110 km/ giờ  chẳng gợn một cú xóc. Phong cảnh núi rừng  lướt ngoài cửa xe. Vẫn liên tiếp là rừng. Có thể đã bị khai thác rất nhiều nhưng rừng Lào vẫn là nguồn tài nguyên đang rất dồi dào. Nếu được giữ gìn và khai thác có kế hoạch thì gỗ ở đây là vô tận. Gỗ được xác định là nguồn tài nguyên số một của Lào, đứng trên cả điện và khoáng sản.

       Rất khác ở quê nhà về sự ồn ã náo động từ rất sớm, có thể từ lúc nửa đêm, của tiếng người, của các loại xe cộ. Viên Chăn tĩnh lặng đến không ngờ. Đã năm giờ sáng mà đường phố vẫn còn vắng tanh. Các công sở, biệt thự, khách sạn, chùa chiền vẫn như đang thiêm thiếp. Trời đã sáng và nắng sớm đã chan hoà. Mấy chiếc xe máy đến giao lộ gặp đèn đỏ dừng lại trước vạch ngăn cách. Sáu giờ, trung niên, nam nữ thanh thiếu niên dày ba ta, quần áo thể thao, hàng trăm người chạy thể dục trên đại lộ Lạng Xạng, con đường chính chạy suốt dọc thủ đô của đất nước Triệu Voi. Dọc hè phố, các sư sãi nối nhau đi khất thực. Dòng người tu hành lặng lẽ, họ đang đi ban phát niềm an ủi. Đức phật đã dạy muốn được giàu có thì phải biết cho đi.
 Ánh nắng ban mai càng làm cho Pa Tu Xay thêm rực rỡ. Theo nghĩa tiếng Lào đây là cổng đài chiến thắng, công trình kiến trúc được coi như Khải Hoàn Môn ở thủ đô Pari của nước Pháp uy nghi trầm mặc vươn lên nền trời trong xanh của buổi bình minh. Một không gian thoáng đãng, tĩnh lặng đến lạ lùng. Cả thành phố suốt từ tối qua đến sáng nay không hề nghe lấy một tiếng còi xe, không hề nghe tiếng gầm rú của xe trọng tải lớn. Vừa được chiêm ngưỡng một Viên Chăn đêm lung linh, một quảng trường Pa Tu Xay, tĩnh lặng thầm thì. Và bây giờ…Không một tiếng nói to, không một tiếng động lớn. Đoàn người chạy thể dục buổi sáng. Các em nhỏ rảo bước cùng người lớn sải những bước chân khoẻ khoắn bên mép đường. Cảm giác như lúc này tuổi trẻ của thành phố hơn sáu mươi vạn dân này đang đổ ra đường để rèn luyện sức khoẻ. Thành phố không có nhà hàng lớn, không có sự ồn ã tấp nập của cảnh ăn uống. Không có tụ tập đông người. Một môi trường  trong lành tĩnh lặng đến lạ lùng. Khắp các đường phố của thủ đô Lào khó mà tìm thấy một mẩu rác. Hôm qua, trên đường từ cửa khẩu sang, khi lên đỉnh một con đèo, sau chặng đường ngót cả trăm km nắng nóng, chúng tôi được nghỉ lại chốc lát. Người ta xây dựng một ngôi nhà ở nơi lộng gió cho khách nghỉ chân. Những Xả Lá được làm bằng gỗ, mái tôn, có sàn thấp, bốn phía để trống có ghế tựa để du khách có thể phóng tầm mắt. Bên cạnh cầu thang thấp người ta cũng đặt một thùng rác. Chúng tôi hít căng lồng ngực không khí trong lành mát mẻ của rừng Lào.
Rừng Lào ba mươi lăm năm trước, khi còn là người lính vượt Trường Sơn, đoạn đường này tôi đã đi qua. Hồi đó tôi đâu được quan sát phong cảnh. Rừng bịt bùng, máy bay địch luôn bám sát mỗi bước chân. Mấy chục năm đã đi qua, trong ký ức mịt mờ của tôi vẫn là những cánh rừng Lào hoang vắng và trùng điệp. Hồi đó chúng tôi như lút chìm giữa “đại dương” rừng già. Chẳng thấy đâu một làng bản dọc đường, hoạ hoằn lắm mới có bóng một người dân trên dọc đường đi. Vậy mà giờ đây...Tôi đã ngỡ ngàng với thị trấn Lạc Xao. Ngày đó nơi đây cũng chỉ là một đoạn đường đá khuất trong rừng cây hoang vắng. Lạc Xao bây giờ có đường phố chính, có bến xe, có ngôi chùa rất đẹp. Khu chợ buôn bán sầm uất với hàng hoá phong phú. Dân từ các làng bản xa mang sản phẩm xuống chợ bán mua tấp nập. Bữa cơm trưa ở Lạc Xao có thịt gà ác, có cà dòn chấm mắm tôm, có bia Lào thơm ngon đậm đà mỗi chai khoảng mười hai ngàn tiền Việt. Ngày đó, ngay tại đây chúng tôi mắc võng cạnh đường, nhá lương khô, nghe tin hội nghị Pa Ri trong niềm mong mỏi không cùng cho ngày hoà bình của hai nước Lào Việt. Sân bay Na Pê bỏ hoang hồi đó nay đã thành một cánh đồng lúa. Còn Lạc Xao, ngày đó tôi đâu nghĩ rằng ba lăm năm sau nơi đây là một thị trấn. Thời gian đã kịp làm vật đổi sao dời. Qua Lạc Xao đến bến vượt Nậm Thơn, đoạn đường rừng bằng phẳng ngày đó luôn bị máy bay L19,  OV10 và T28 của nguỵ Viên Chăn rình rập dòm ngó. Bến vượt Nậm Thơn, vì chưa có phà  nên chúng tôi phải tạt và rừng tìm chỗ trú...Nước Nậm Thơn vẫn trong xanh, giờ đây qua sông đã có cây cầu sừng sững. Nậm Thơn đâu rộng và âm u như trong ký ức. Chẳng còn cảnh hoang vắng gợi sự nguy hiểm rùng rợn nữa. Và tôi được biết thêm rằng nước sông Nậm Thơn đang sinh lợi. Nhà máy thuỷ điện Nậm Thơn có công suất xấp xỉ thuỷ điện Nâm Ngừm. Từ trên ngọn đèo lộng gió nhìn xuống dòng sông tôi bất chợt nhận ra là mình đã nhầm. Chả trách gì đầu chiều tôi đã ngỡ ngàng với dãy lèn đá sừng sững theo suốt mặt bắc của con đường. Tôi vẫn còn nhớ rằng hồi đó, từ hậu cứ, vị trí đầu tiên của đơn vị, tôi đã được cùng các anh trong ban chỉ huy tiểu đoàn đi dự hội nghị quân chính mặt trận. Phải chờ gần bốn tiếng đồng hồ chúng tôi mới qua được sông. Qua sông một quảng mấy chục cây số là cao nguyên Na Kay sát chân đèo Phu Hắc. Đoạn đường này bịt bùng rừng thông. Những cây thông cao vút đến hàng người ôm mọc tập trung từng vùng rộng lớn thoáng đãng. Chẳng biết cái khu rừng bên trái đường nơi bến vượt Nậm Thơn có còn không. Đèo Phu Hắc, nơi chúng tôi đặt đài trung chuyển liên lạc với Xê 10 cắm chốt bảo vệ bến vượt Nậm Thơn. Tiểu đoàn chẳng cách xa lắm Xê 10, nhưng do địa hình phức tập nên liên lạc chập chờn tín hiệu. Bên kia đèo là Nhom Ma Rát, lúc qua sông, tôi vớt được mấy con cá bị bom, mang lên góp chung vào bữa ăn với mấy bác người Lào Lùm đang thu hoạch lúa bên đường. Gọi là thị trấn mà Nhom Ma Rát chỉ hoang vắng mấy dãy me già và vài nền nhà bỏ hoang bên cạnh đường đi. Từ Nhom Ma Rát xuôi xuống là trùng trùng lèn đá. Và cái thị trấn Nhom Ma Rát ấy bây giờ ra sao. Thị trấn Ma Hả Xay nữa, cái thị trấn bên tả ngạn sông Sê Băng Phai ấy. Hẳn rằng đó là một thị trấn rất đẹp. Chắc rằng giờ đây...Tôi cố hình dung ra một Ma Hả Xây tươi vui đang như một người đẹp, chiều chiều mơ màng soi bóng xuống dòng sông. Ma Hả Xây có những ngôi chùa đổ nát vương vãi tượng phật, có những hàng dừa hàng me rợp bóng và cả những khu rừng khộp  bao quanh...Giá như bây giờ được đến đó nhỉ. Nếu được đến đó, chẳng biết tôi có còn nhận ra vị trí của trận địa hôm bị bom B52 trùm kín. Và cả nơi tôi lăn mình từ trên võng xuống đất khi T28 nã từng tràng 20 li đỏ lừ xuống vùng ngoại vi thị trấn. Và nữa, tôi có nên tìm gặp Bun Xi không. Để rồi có một bà già  ngơ ngác trước một lão đàn ông xa lạ. Không, Bun Xi trong tôi vẫn là một thiếu nữ Lào nhỏ nhắn e lệ khi nhờ tôi giảng giải công thức tính diện tích toàn phần của hình lập phương. Ngày đó Bun Xi xinh xắn lắm. Hàng ngày cô thoăn thoắt bước chân trên những bậc đá dẫn xuống dòng sông mà bế lên những ống nước mát lành. Bun Xi học bổ túc lớp năm bên này sông. Hàng ngày cô chèo thuyền độc mộc qua đi học, gặp tôi cô chắp hai tay trước ngực và khẽ cúi mình chào Xam bai đi. Xăm bai đi, câu chào cửa miệng của người Lào khi gặp nhau có một sức âm vang lan toả suốt mấy chục năm trong tôi. Ngày đơn vị tôi xếp hàng lên xe trở về, Bun Xi đứng lẫn trong đoàn người đưa tiễn mà bần thần nhìn đoàn xe lăn bánh. Một nửa đời người rồi còn gì, sao bao kỉ niệm hãy vẫn còn tươi rói trong tôi thế này...
Con đường vẫn mải miết trải dài ra tít táp giữa bạt ngàn cây lá. Đường nhựa rải thảm phẳng lì cho phép xe chạy với tốc độ cao. Suốt dọc đường đi, dù rừng Lào chẳng còn mịt mùng như hơn ba mươi năm trước nhưng vẫn cho ta cái cảm giác được đi giữa xứ sở của núi rừng trùng điệp.
Một mùa mưa mới đã tới. Những cơn mưa đầu mùa làm dịu mát bầu trời, làm xanh mướt rừng cây. Nước Lào là đất nước của rừng. Dọc đường, những khu rừng, những thảm cỏ sạch bong và mượt mà. Những cơn mưa đầu mùa như gột rửa hết bụi bặm của bầu trời suốt mấy tháng mùa khô, cả núi rừng trở nên trong trẻo như một tấm gương mới được lau chùi. Màu xanh mượt mà của cây cỏ cho ta cảm giác về sự hồi sinh mạnh mẽ của núi rừng sau một thời gian bị chặt phá. Nước mưa hãy còn lênh láng mặt ruộng. Người dân Lào bắt đầu vào một vụ mới. Những chiếc máy làm đất cầm tay đang xình xịch cày bừa. Những lán nghỉ rải rác giữa đồng thấp thoáng dưới tán cây. Một cảnh sắc thanh bình hiếm thấy. Chúng tôi no mắt nhìn phong cảnh núi rừng. Đất nước chỉ hơn sáu triệu dân với diện tích gần như trăm phần trăm là đất rừng, Lào có một môi trường thật trong lành và khoáng đạt. Chính phủ Lào đã có lệnh cấm khai thác gỗ. Nhà máy chế biến gỗ tại thị trấn Lạc Xao, dù đã tốn không ít tiền bạc để xây dựng vẫn phải đóng cửa. Người Lào đang bỏ đi cái lợi trước mắt cho tương lai lâu dài. Dọc đường đi chúng tôi không hề thấy đâu một cảnh cây rừng bị chặt phá. Lâu lâu, chúng tôi mới bắt gặp một cụm dân cư. Bám dọc đường là vài thị trấn nhỏ, những cụm nhà sàn thấp thoáng ẩn hiện dưới bóng cây rừng. Những ngôi nhà xinh xắn, lâu lâu bắt gặp dưới gầm mỗi nhà có một chiếc xe bán tải. Và ở đâu cũng có chùa, những ngôi chùa hãy còn tươi rói màu sơn.
 Đường phố thủ đô hầu hết là xe bán tải. Xe bán tải rất được ưa chuộng và tiện dụng cho dân Lào. Giờ cao điểm, ô tô du lịch nối đuôi nhau trên đường phố Viên Chăn. Khu chợ trung tâm, xe du lịch, xe bán tải đỗ từng bãi rộng. Không hề trông thấy một xe tải nào trên đường phố thủ đô. Một thành phố yên tĩnh và thanh bình. Lái xe ở Lào không có thói quen bấm còi. Các trạm tín hiệu chỉ huy giao thông được bố trí rất khoa học và tỉ mỉ. Đường phố không có nạn kẹt xe hay va quệt. Dòng xe cộ trình tự trôi trong một trật tự hiếm thấy.
 Người Lào không biết nói tục, không chen lấn xô đẩy, không cãi cọ to tiếng và có nếp sống thanh thản. Buổi sáng tám giờ công sở mới mở cửa, bốn giờ chiều đã tan tầm. Người kinh doanh cũng nghỉ hai ngày một tuần. Cuộc sống thanh tịnh, phong thái nhàn nhã đến kinh ngạc khiến  ta có cảm giác con người nơi đây ít quan tâm đến đời sống.
Thủ đô của nước Lào không có nhà cửa đồ sộ. Duy nhất chỉ có ngôi nhà 10 tầng. đó là Đon Chăn Hotel. Đon Chăn Hotel, nơi nghỉ dành cho các nguyên thủ quốc gia trong các hội nghị quốc tế cách trung tâm Viên Chăn gần hai mươi km. Độ cao của ngôi nhà chẳng làm ảnh hưởng đến không gian kiến trúc của thủ đô. Thủ đô nước Lào có một không gian thoáng đãng, thấp thoáng biệt thự, chùa chiền, cây xanh và thảm cỏ. Đi trên đường phố Viên Chăn ta được chiêm ngưỡng những mái chùa cong vút, những tường rào mang dáng dấp kiến trúc phật giáo, tiếng mõ cốc cốc tụng kinh niệm phật và dìu dặt các giai điệu Lăm vông.
Hướng dẫn viên cho chúng tôi tới các điểm du lịch ở Viên Chăn là một người Lào, chị Ja Mon đưa chúng tôi thăm ngôi chùa lớn ở thủ đô. Chùa Me Xỉ Mường dập dìu du khách. Chùa ở trung tâm thủ đô nên rất tiện cho du khách. Người ta có thể đến đây vãn cảnh và cầu mong những điều tốt lành. Chúng tôi như đắm chìm trong không khí u tịch và trầm mặc. Ngôi chùa lớn với mái vòm cong vút vàng rực trong buổi bình minh. Nơi đây, du khách và phật tử có thể giao lưu và cầu nguyện về những điều tốt lành nơi cửa phật. Chị Ja Mon là người Mông Xiêng Khoảng. Người phụ nữ Lào khá lớn tuổi này có một vốn  ngôn ngữ Việt đáng ngạc nhiên. Chị nói tiếng Việt như một người Việt  thực thụ. Ja Mon cho biết rằng chị đã được lớn lên ở Việt Nam. Ấy là những ngày chị cùng hàng ngàn người dân Xiêng Khoảng sơ tán sang miền Con Cuông, Tương Dương tỉnh Nghệ An. Bom đạn Mỹ cùng bọn phỉ Vàng Pao tàn phá quê hương, chị và đồng bào Lào đã được bà con Việt Nam cưu mang đùm bọc. Chị bảo gặp chúng tôi như là được gặp những người anh em. Thực sự trong tiềm thức mỗi người dân Lào thì Việt Nam đã là một người bạn lớn. Lịch sử đã gắn bó hai dân tộc trong cùng một vận mệnh nên dễ đồng cảm và trách nhiệm sẻ chia. Ngoài sân chùa, tôi được làm quen với một thiếu nữ Lào xinh đẹp. Cô gái có đôi mắt tròn đen, nước da rám nắng, sống mũi thẳng với nụ cười khả ái. Vốn tiếng Lào ít ỏi chỉ đủ cho tôi hỏi tên và địa chỉ của cô. Cô gái lấy bút mạnh dạn ghi địa chỉ mạng và số Tel xong rồi chắp tay cúi mình. Một cô gái Lào hiện đại, một cô gái Lào truyền thống. Khuôn mặt với vẻ thông minh và đầy tự tin cho tôi thêm một sự lạ nữa.
Nằm cạnh sông Mê Công, bãi phật Vắt Xi Khuôn cách trung tâm Viên Chăn khoảng hai mươi lăm km. Ngay lối vào bãi phật là một lò bát quái đồ sộ. Trên đỉnh hình cầu khổng lồ có một phương trượng chọc thẳng lên bầu trời, chỉ con đường lên thiên đàng dành cho những ai có tâm hồn trong sạch. Còn phía dưới, giữa lò bát quái là lối xuống địa ngục, nơi sẽ hoá kiếp những tâm hồn tội lỗi. Lò bát quái như một lời nhắc nhở chúng sinh trong kiếp sống gửi thác về. Vắt Xin Khuôn có hàng trăm tượng phật giữa một bãi cỏ rộng xanh mướt, rải rác những những vòm cây, những cụm hoa. Có hàng trăm pho tượng lớn nhỏ. Tượng trăn tượng ngựa, tượng cá sấu, tượng voi bốn ngà, tượng rắn ba đầu... Tất cả quỉ ma ác thú đều cúi đầu trước lòng thành của phật. Và nhiều nhất là tượng người mặc áo cà sa. Những khuôn mặt trầm tư đầy vẻ lưu tâm giác ngộ... Ngôi tượng phật nằm đồ sộ dài hai lăm mét, áo cà sa trải dài, một tay chống cằm nâng bộ mặt trầm tư. Sao dáng nằm thì thanh thản mà phật lại có nét mặt thế kia. Phải chăng ngài chưa thể yên lòng trước bao sự đời ngổn ngang nơi trần thế? Tượng phật nghìn tay nghìn mắt đầy quyền năng...Toát lên tất cả là những bộ mặt từ bi, như muốn nhắc nhở chúng sinh buông xả mọi vọng tưởng giả dối, hãy sống một đời sống an lành trong cái bình lặng của tâm tư.
 Bờ bên kia là đất nước Thái Lan, cũng thấp thoáng những mái nhà cong vút, cũng làng mạc xanh tươi. Dòng Mê Kông mùa này đang kỳ đỏ nước. Ranh giới tự nhiên này đã chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử của vùng đất này. Chỉ cách một con sông, phía bên kia vẫn đang đắm mình trong triền miên bao cơn biến động. Còn bên này, một nước Lào nhỏ bé mà bất khuất, một nước Lào bình thản ưu tư như vầng trán phật trước cõi đời.
Cửa khẩu hữu nghị Lào Thái. Chiếc cầu nối hai bờ Mê Công sừng sững ngang trời. Khu vực cửa khẩu khang trang hiện đại tấp nập du khách. Người Thái, người Căm Pu Chia, người Việt, người phương Tây...Cánh cửa nước Lào đang rộng mở. Nước Lào đang là điểm đến của mọi người dân trên thế giới. Vẫn những bãi xe và dòng người nhộn nhịp mà không ồn ã. Vẫn những quảng trường, những đại lộ tươi tốt lá hoa, những siêu thị đầy ắp hàng hoá, thoả mãn mọi nhu cầu của du khách đến với Lào.
Bảo tàng Cay Xỏn Phôn Vi Hản. Phía trước toà nhà mang đậm phong cách kiến trúc Lào, pho tượng đồng vị lãnh tụ đáng kính cao lớn uy nghi dưới vòm trời cao rộng của nước Lào tự do. Toà nhà toạ lạc trên một không gian bát ngát, phía trong toà nhà vàng rực màu của các bức phù điêu, của cột gỗ chạm trổ các hình ảnh các miền đất của nước Lào. Và vàng rực màu áo cà sa của hàng trăm tăng ni phật tử. Những phật tử nhỏ tuổi theo dòng Đại thừa đang vừa chiêm ngưỡng vừa dán mắt vào các hiện vật và các hình ảnh tìm hiểu truyền thống đất nước. Các sư tiểu vừa quan sát vừa ghi chép cẩn thận vào một cuốn sổ tay. Như vậy là trước lúc được làm nghĩa vụ với đất nước, công dân nhỏ tuổi của nước Lào đã được học những bài học đầu tiên về đạo làm người, về truyền thống quê hương. Sau biết bao biến động phân chia, cuối cùng đất nước Lào vẫn trở lại là một quốc gia tự do và độc lập. Không khí linh thiêng bao trùm toàn bộ không gian của bảo tàng. Triết lý nhà phật với ý thức công dân đang hoà hợp sinh động. Phật giác ngộ chúng sinh lánh xa nơi trần tục, không tranh giành vật chất, không ham hố quyền lực thì tâm hồn được thanh thản siêu thoát. Hãy tránh mọi cám dỗ, rời bỏ chốn tham lam dục vọng. Dù kiếp sống có ngắn ngủi đến đâu cũng phải giữ lấy tiếng thơm nơi trần thế. Phải chăng triết lý sống muôn đời đó đã tạo cho dân tộc này có một phong thái tự tại an nhàn.
Thạt Luổng, ngôi tháp lớn, biểu tượng của nước Lào, không gian phật giáo trải ra bát ngát và vàng rực trong ánh vàng của buổi trưa. Cái nắng chói chang càng làm khu vực quảng trường ngôi “Tháp Lớn” đầy vẻ tôn nghiêm. Ngôi tháp thật đường bệ, uy nghi như biểu tượng cho vẻ tự tại tôn nghiêm và trầm tĩnh của tâm hồn Lào. Chị Ja Mon cho biết, nếu du khách đến Lào vào những dịp như Bun Bi May, Bun Thạt Luổng... sẽ hiểu hơn về người Lào, về văn hoá Lào. Nước Lào đang bảo tồn, lưu giữ được rất nhiều những giá trị văn hoá đặc sắc mà những gì chúng tôi được thấy chỉ là số ít. Bên trái quảng trường Thạt Luổng là toà nhà Học viện Phật giáo sắp được khánh thành. Ngôi nhà đồ sộ có những tầng mái đỏ xếp lớp và cong vút nằm giữa một quần thể kiến trúc được bao bọc bởi những cây xanh, bồn hoa, thảm cỏ.
 Chợ trung tâm thành phố, vào ngày cuối tuần nên tĩnh lặng đến không ngờ. Mặt trước của khu chợ là một bãi xe xếp hàng trật tự. Trong chợ hàng hoá được sắp xếp gọn gàng sạch sẽ. Ở đây không có cảnh mời chào chèo néo khách. Tôi dừng lại một quầy hàng bán đồ lưu niệm bằng bạc. Chủ của cửa hàng này là một người Việt. Chàng trai trẻ người thành phố Vinh rất vui khi biết tôi từ bên “nhà” sang. Anh cho biết ở Viên Chăn, cộng đồng người Việt có đến cả chục ngàn, hầu hết là kinh doanh buôn bán trong chợ. Riêng anh đã cùng vợ sang đây làm ăn đã mấy năm. Vợ chồng anh rất thoả mãn với cuộc sống nơi đây. Anh nói việc kinh doanh ở đây rất dễ chịu. Đồng kíp Lào có mệnh giá bằng một phẩy bảy đồng tiền Việt Nam và rất ổn định. Anh nói người dân Lào thân thiện và tốt bụng. Ở đây không có nạn mất cắp, không chửi bới, không nói tục, không có tranh giành chụp giật, không có cảnh ăn uống xô bồ. Thật là một lối sống có thể làm tăng thêm tuổi thọ cho con người.
Tối cuối ở Viên Chăn, một bữa ăn theo thực đơn Lào dọn ra trong ánh đèn mờ ảo soi bóng xuống Mê Công. Rượu nhà mang sang mà hương vị giờ đây như đã khác. Thịt nướng thơm, rau ghém đắng, ớt Lào cay... Chúng tôi, những thực khách như lạc lõng giữa không gian ẩm thực của phố đêm. Anh bạn nhà thơ dốc ngược chén rượu xuống dòng nước đang âm thầm chảy dưới chân và nói. Anh nói thật tiếc không được lên nơi ngọn nguồn của dòng sông.
Hai ngày hai đêm, đó là tôi tính cả hai nửa ngày cho sự đi, về từ Viên Chăn đến cửa khẩu Cầu Treo. Như thế là chúng tôi chỉ có mặt ở Viên Chăn một ngày và hai đêm. Một ngày trong sự khẩn trương thích thú, hai đêm trong tĩnh lặng dưới không gian huyền bí của đêm Lào trầm mặc. Cái đất nước vừa lạ vừa quen. Một ngày hai đêm, cái quen chưa thể nói nhiều mà cái lạ vẫn còn nguyên đó. Đã biết gì về nước Lào đâu mà tôi chỉ tin rằng những gì vừa được chứng kiến rồi sẽ ám ảnh bao người.
               N.N.L

Bức tranh

14/12/2013 lúc 23:08






B





ức tranh của Võ Xuân Huy như một mẩu ký ức đau đớn của tôi treo trên tường, về những ngày Thành Cổ Quảng Trị.
Tranh sơn mài, với hai màu đỏ vàng truyền thống. Màu đỏ là nền choáng ngợp cả bức tranh, mở ra một không gian có vẻ lạ lẫm với cuộc sống thường ngày của tôi bây giờ. Đó là không gian của máu, của lửa và của một sức đấu tranh nhằm, giành giật nhau từng tấc đất để sống. Tình cờ đứa bạn cũ mời đi uống nước ở một quán du lịch phía sau lưng Thành Cổ, tôi mới nhận ra điểm nhìn tổng quát của bức tranh. Nó trông giống và đẹp hơn so với bút pháp hiện thực muốn đưa người ta đắm chìm vào những chi tiết quá cụ thể. ở đây là phong cách trừu tượng nhằm tái sinh lại một thực thể bỗng nhiên đã bị trừu tượng hoá bởi chiến tranh.
Trước mắt tôi, ở cuối bức tranh là một đường thẳng hàng gợi nhớ lại một bức tường của Thành Cổ thuở bom đạn chưa huỷ diệt, trên đó những mảng vôi vữa vẽ nên những hình thù lở lói và ở bìa trái, một vết gì còn nguyên vẹn, gợi nhớ một con đường. Tiếp theo những hình ảnh quen thuộc của một ngôi thành bị tàn phá, là một mặt nước xanh biếc và phẳng lặng mà có lẽ là cái hào hộ thành. Trí óc tôi cứ liên tưởng về sông Thạch Hãn, đoạn sông đẫm máu khi bộ đội phải qua lại Thành Cổ dưới làn pháo địch. Cuối cùng bên mép rìa của con sông Thạch Hãn tưởng tượng, là một hàng lô xô những bụi lau vàng chói trong ánh nắng, những bụi lau anh hùng còn đứng vững trên mặt đất...

Xuân này, về lại chiến trường xưa...

17/04/2014 lúc 15:02






L





ại như một sự tình cờ, vào những ngày cuối năm này, tôi bỗng có cơ may được về lại chiến trường xưa một thời binh lửa. Lực lượng đặc công Quân khu có ý định viết cuốn sử, mời tôi làm chủ biên. Lịch sử đặc công Quân khu, già phân nửa là những trận đánh ở chiến trường Quảng Trị. Đại tá Đặng Trung Thành- Anh hùng LLVT- người gần bốn mươi năm gắn bó với binh chủng, thân đến gặp tôi:
- Anh từng là lính đặc công, tham chiến nhiều năm ở Quảng Trị. Viết lịch sử đặc công không dễ, chỉ người trong cuộc mới làm được, tôi muốn nhờ anh đảm đương nhiệm vụ này. Ta vào Quảng Trị một chuyến để lấy không khí, anh đi được không?
- Vào Quảng Trị? Hay quá! Nhưng các cứ điểm đặc công đánh ngày ấy, ta đến cả rồi. Lần này, anh định tới nơi nào?
- Đến hậu cứ của đại đội tôi ngày ấy ở miền Tây Hướng Hoá. Anh đừng ngại, bây giờ đến đó đường rải nhựa phẳng phiu rồi. Ngày ấy, ở cánh rừng không tên nằm trong dãy Sa Mù ấy, chẳng có đường đâu. Đại đội tôi ăn Tết ở đó năm sáu chín (69). Một cái Tết như từ trên trời rơi xuống. Kỷ niệm lắm! Anh cứ đi, túc tắc dọc đường tôi sẽ kể…

Lao Bảo rồi sẽ hết những mùa mưa?

17/11/2014 lúc 08:34






N





hà của bố mẹ vợ tôi ở gần chợ Lao Bảo, nói vơ vào cho sang là ở gần cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Nhân đi Lao Bảo để viết bài, tôi ghé lại nhà, cốt là để… nịnh bà mẹ vợ. Tôi mới chân ngoài chân trong, thì bà quần áo ống xăn ống thả, dậm chân dậm cẳng gửi té tát:

Người tâm huyết vì quê

19/01/2014 lúc 22:23






T





ừ giữa năm 2005, trên một khu đất rộng hai héc ta bên cạnh tỉnh lộ bảy đi lên các xã miền núi phía Tây huyện Vĩnh Linh, người ta thấy xuất hiện một cơ sở sản xuất kinh doanh mñ cao su. Cả miền đất hoang hoá, nhấp nhô cồn, đống một thời, nay đang được đánh thức bằng tiếng người, tiếng máy trong không khí tấp nập, khẩn trương. Đứng từ rất xa, mọi người vẫn nhìn thấy rõ dòng chữ vàng in đậm và rất to lên tường nhà máy: “Vì quê hương giàu đẹp”. Nhìn cơ ngơi này, ai cũng ngạc nhiên và đặt dấu hỏi: “Sao lại có người khờ khạo ném tiền vào vùng đất hoang vu để lập cơ sở sản xuất kinh doanh? Thật là hoang tưởng…”. Nhiều lời xì xào, bàn ra tán vào, không tin sự thành công của cơ sở này. Sự bán tín, bán nghi đó không phải không có căn cứ, vì trên đất Quảng Trị đã có người bỏ ra hàng chục tỷ đồng để xây dựng cơ nghiệp làm ăn lớn nhưng rút cuộc bị đổ vì bởi không thành thạo việc kinh doanh, thua lỗ đậm, chấp nhận “chết yểu”. Đằng này, chế biến mñ cao su thì thị trường đã đi vào sản xuất, kinh doanh ổn định, bạn hàng đã đâu vào đấy cả rồi, liệu người đi sau có cơ chen chân lọt không? Nếu không lường tính cụ thể thì chuyện bỏ ra nhiều tỷ đồng để rồi húc đầu vào đá là điều không thể tránh khỏi… Thương trường là như thế.
Chỉ chưa đầy nöa năm, cơ sở chế biến mñ cao su đi vào hoạt động. Người ta thấy rõ ý chí quyết tâm rất cao của ông chủ doanh nghiệp này. Cũng không ít người ngẫm nghĩ: “Có chí làm quan, có gan làm giàu” và họ bắt đầu chú ý đến ông chủ có gan đến vùng đất gò đồi này để làm một sự thay đổi trong tư duy nhiều người. Ông chủ này không lặp lại một số người đi trước bị thất bại trên thương trường. Toàn bộ hệ thống dây chuyền công nghệ chế biến mñ cao su đều mua tại Việt Nam, do Việt Nam sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đã có bài học đắt giá bày ra trước nhãn tiền là...

Huế, "Vòng nguyệt quế" của mùa xuân năm ấy

19/01/2014 lúc 22:22






T





rong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm Mậu Thân (1968), Huế thực sự là chiếc vòng nguyệt quế của quân và dân miền Nam. Chỉ với bốn ngàn tay súng đã giải phóng thành phố, thành lập chính quyền cách mạng, bẻ gãy nhiều cuộc tiến công của hơn 20 ngàn quân Mỹ nguỵ và bom đạn từ B.52, xe tăng, pháo hạm, hiên ngang như một “Stalingrat” trong Thế chiến thứ 2.
QUYẾT TÂM “VỪA ĐÁNH VỪA LỚN LÊN”
Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, năm 1966 chiến trường và Khu uỷ Trị Thiên Huế được thành lập từ nam Vĩ tuyến 17 vào đến bắc đèo Hải Vân. Chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1968 lấy Huế làm tâm điểm và giao cho Khu uỷ Trị Thiên Huế trực tiếp lónh đạo.
Thường vụ Khu uỷ phân công đồng chí Lê Minh, Phó Bí thư Khu uỷ, kiêm Bí thư Thành uỷ Huế giữ trọng trách Chỉ huy trưởng chiến dịch, đồng chí Lê Chưởng làm Chính uỷ, Phó Tư lệnh là đồng chí Nam Long và đồng chí Đặng Kinh giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng.
Đồng chí Lê Minh kể lại rằng, khó nhất của chiến dịch Mậu Thân ở Huế là hậu cần. Trong khi địch có đến 20 ngàn tên dưới sự yểm trợ của B.52, xe tăng và pháo hạm thỡ ta chỉ cú gần bốn ngàn tay sỳng. Đạn chỉ hơn một cơ số, lương thực chỉ ăn đủ vài hôm và quân dự bị thỡ khụng cú. Để chuẩn bị đánh chiếm Huế, trước giờ nổ súng, bộ chỉ huy chiến dịch điện ra Trung ương xin tiếp viện một sư đoàn quân...

Lặng im như lửa

17/04/2014 lúc 15:10






T





rong những ấn tượng tuổi thơ tôi có một ngọn núi đêm đông bập bùng ánh lửa, gió bấc thổi xào xạc, lửa càng khuya càng lan tỏa, càng bén nhanh, nó trườn liếm khắp sườn núi.
Tôi ngồi trước thềm, hai tay bó gối, bên mảnh sân nổi rêu, những lùm nhãn um tùm tối sẫm, hàng cau nhè nhẹ đung đưa. Nhà trong nhà ngoài đều đã tắt đèn, chỉ còn tiếng một con cuốc sót lại dưới ao là vẫn đang khắc khoải kêu như nỗi nhớ một mùa hạ đã qua từ lâu rồi, thế là có cuốc đông chứ không phải chỉ có cuốc hè, con cuốc này kêu lạ lắm, lúc lúc nó lại nấc lên thảng thốt. Trông lên đằng xa trong màn đêm dày đặc không trăng không sao, ngọn lửa vẫn cứ đang lúc ẩn lúc hiện, và tôi tự nhủ, ai người đốt lửa trên núi, mà đốt thế để làm gì?
Bà tôi bảo đấy là đám trẻ rủ nhau vơ cỏ chất thành đống, lúc sắp lùa trâu về thì gửi lại một mồi, gió đưa lửa chạy nổ lép bép. Chúng nó cứ thích thế, đốt lửa rồi cưỡi trâu nhong nhong về làng.
Nhưng chị Gái người ở của nhà lại kể khác, chẳng phải thế đâu bà ạ, đấy là thằng Tây cao kều xua lính dõng ra đốt sạch cỏ quanh đồn để bộ đội không còn chỗ bò nấp. Mấy lần các anh ấy đã vào cắt hàng rào dây thép gai toan bắt nó mà không xong, thằng ấy ranh ma lắm, lúc ngủ trong bốt, lúc lủi xuống đồng, phục kích bắn vào đoàn người vượt vành đai trắng ra vùng tự do. Người làng trên ấy kể có hôm nó choàng áo tơi đội nón lá lụ khụ như ông lão tìm vào ấp Nhẫm làm gì ấy không biết nữa, có một bà chợt thoáng thấy đôi mắt nó xanh lè như mắt mèo thì rú lên nhảy ào xuống ao, nó chỉ cười không đứng lại...

Mảnh đất hồn người

14/11/2014 lúc 15:19

Đối với tôi mảnh đất làng Xuân Long đã trở thành thân thuộc. Trong mỗi đời người, ai cũng lấy nơi chôn rau cắt rốn làm quê nhà, lấy nơi lớn lên và trưởng thành làm đất lập nghiệp. Đối với đời tôi có cả hai nơi đất ấy.

« 5455565758 »

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

05/08

25° - 27°

Mưa

06/08

24° - 26°

Mưa

07/08

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground