
28/01/2025 lúc 23:15

19/08/2023 lúc 16:57
LTS: NSƯT Tân Nhân quê ở làng Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh. Năm 1949 tham gia Đoàn Văn công Quân đội mặt trận Bình Trị Thiên, năm 1954 là nghệ sĩ đơn ca của Đoàn Ca múa Trung ương. Tốt nghiệp Đại học thanh nhạc năm 1963-1968, tu nghiệp tại Xôphia (Bungari 1969-1972). Năm 1973 công tác tại Đài Giải phóng, Đài Tiếng nói Việt Nam…
Là giọng nữ cao trữ tình, NSƯT Tân Nhân đã biểu diễn và thu thanh thành công nhiều bài hát nổi tiếng như “Câu hò bên bến Hiền Lương”, “Xa khơi”, “Tình quê hương”,“Ru con”… Cho đến nay vẫn để lại nhiều dư âm trong lòng công chúng.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc trích đoạn hồi ký nghệ thuật của bà sắp xuất bản.
VỚI BÁC HỒ:
Lớp diễn viên chúng tôi thường có vinh dự được gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên sau khi tiếp quản Thủ đô, văn công lập nhiều thành tích nên được khen ngợi. Một hôm, chúng tôi được mời vào Chủ tịch phủ.
Tôi nhớ hôm đó có mặt các giọng hát tên tuổi: Lệ Thi, Châu Loan, Ngọc Dậu và nhiều diễn viên múa nhạc. Khi Bác Hồ xuất hiện, chúng tôi mừng rỡ quá ùa tới vây quanh. Bác hỏi từng người... Các anh chị cảm động quá cứ khóc lây lan nhau... Bác Hồ cho chúng tôi xem phim, khi ra về lại cho kẹo. Tôi được ngồi gần Bác, thấy thỉnh thoảng Bác lại ho khan, tôi áy náy lắm. Có lúc không dừng được, tôi ghé gần hỏi "Bác ơi! Bác ốm rồi". Bác bấm nhẹ tay tôi ra hiệu đừng làm mất tập trung mọi người. Thế là sau này tôi nhớ lại là ngày từ Việt Bắc về Hà Nội, Bác đã chịu đựng biết bao nhiêu lao khổ để đưa cuộc kháng chiến tới thành công. Bác luôn giấu đi những khó khăn đau đớn của mình.
Một lần, nhân rút từ túi gì đó tôi làm rơi một tờ bạc giấy (bao nhiêu tôi không nhớ rõ), Bác hỏi cái gì và cầm xem. Tôi bật hỏi tự nhiên: "Bác có tiền không Bác?".
Bác dịu dàng: "Bác không dùng tiền. Nhà nước đã cho Bác mọi thứ."
Tôi nhìn quanh Bác, đúng là Bác không cần bao nhiêu. Một tấm giường không nệm, một ghế mây để ngã mình đọc sách báo, một tủ áo có mấy bộ kaki bạc màu, cổ áo đã sờn. Ra cầu thang thì có tiếng chuông reo khi đẩy cửa. Xuống dưới là ao cá mà thường ngày Bác ra ném mồi cho cá ăn. Bác chẳng có bao nhiều, cuộc sống của Bác như một ẩn sĩ giữa thiên nhiên với hoa lá, cả một vườn cây cổ thụ và bao nhiêu là cá tung tẩy dưới hồ...

19/08/2023 lúc 16:57
G
io Linh là một huyện nằm ở phí Bắc của tỉnh Quảng Trị, toàn huyện có 19 xã, 2 thị trấn, với diện tích đất tự nhiên 48.000 ha và dân số 76.000 người.
Từ xa xưa là một vùng đất của Bộ Việt Thường, là một trong 15 Bộ của nước Văn Lang. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân Gio Linh vốn có nền văn hiến lâu đời, lại có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất, chống giặc ngoại xâm, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất xây dựng quê hương.
Gio Linh có cấu tạo địa hình cao, dốc từ Tây sang Đông, nên thường chịu cảnh “chưa mưa đã úng, chưa nắng đã hạn”. Có năm hạn kéo dài từ đầu đến cuối vụ, lũ lụt bão tố thường xuyên xảy ra, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã làm cho hệ sinh thái mất cân bằng và môi sinh bị cạn kiệt. Để bù lại, thiên nhiên đã ưu ái dành cho mảnh đất này nhiều phong cảnh hữu tình, hoành tráng. Đứng ở Dốc Miếu nhìn về phía Tây là ngọn núi Tứ Linh cao chót vót, quanh năm sắc màu xanh lơ. Xa xa là động Cồn Tiên nơi có tục truyền các ông Tiên chán cảnh thượng giới xuống trần gian ngồi chơi cờ ngắm cảnh...

19/08/2023 lúc 16:57
K
hi đến thăm Bảo tàng Hải quân nhân dân Việt Nam tại thành phố Hải Phòng, tôi thật bất ngờ khi thấy nguyên một gian trưng bày về Cửa Việt. Xa Quảng Trị hàng trăm cây số, lòng tôi trào lên một niềm xúc động mãnh liệt khi cảm nhận có một Cửa Việt giữa lòng thành phố cảng.
Năm tháng qua đi, chiến tranh đã lùi vào quá khứ nhưng những năm tháng chiến đấu chống Mỹ gian khổ và hào hùng "cả nước vì Quảng Trị và Quảng Trị vì cả nước" mãi mãi là bản anh hùng ca cho muôn đời con cháu mai sau. Lịch sử đã sang trang nhưng những trang sử oanh liệt được viết bằng máu của Hải quân Việt Nam và nhân dân Quảng Trị vẫn còn đây, trong phòng trưng bày về Cửa Việt.
Những hiện vật, những mô hình, những kỷ vật, những con số và sự kiện được lưu giữ ở đây đã nói lên rất nhiều điều. 45 hiện vật, 20 bức ảnh và 3 mô hình, sa bàn đã làm sống lại cả giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Ai chưa đến Cửa Việt, sẽ cảm thấy một sự thôi thúc được đến với mảnh đất anh hùng này. Ai chưa được sống, được chứng kiến những năm tháng lịch sử ấy sẽ cảm thấy cuộc sống hôm nay thật quý giá và trách nhiệm đối với quá khứ thật lớn lao. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu trên 300 trận tại chiến trường Cửa Việt. Trận đánh tiêu biểu đầu tiên diễn ra vào ngày 30/3/1967...

19/08/2023 lúc 16:57
T
ôi đang chuẩn bị phát hành bản tin Gio Linh vừa mới in xong thì đồng chí Lê Ánh Hồng, Trưởng Ban Tuyên huấn Huyện ủy gọi đến giao nhiệm vụ. Đồng chí nói: quân ta chuẩn bị mở chiến dịch giải phóng Quảng Trị, đồng chí có nhiệm vụ theo đoàn làm phim và các nhà báo vào căn cứ Dốc Miếu. Mấy ngày trước đó bộ đội xe tăng đã tràn qua khúc sông gần chân Cầu Hiền Lương bị gãy đổ do bom Mỹ. Ở cánh đồng thôn Hiền Lương những ụ pháo cao xạ nghểnh nòng, tua tủa lá ngụy trang. Ở phía Nam, từng tràng pháo rạch xé bầu trời. Tiếng súng nổ ran ở nhiều nơi. Bầu trời Gio Linh trước đó không ngày nào ngớt tiếng gầm rú của máy bay, nhất là máy bay L19, nay bỗng nhiên bặt tăm. Anh em trong Ban Tuyên giáo xôn xao chuẩn bị vào tiếp quản vùng giải phóng. Tài liệu, máy móc được thu xếp gọn gàng...

19/08/2023 lúc 16:57
LTS: Phủ Cam Lộ xưa từng được mạnh danh là vùng đất lam sơn chứng khí; với địa hình khá đa dạng: vừa có gò đồi, vừa có vúng núi cao xen giữa những thung lũng đất đỏ ba zan cùng những cánh đồng trồng lúa nước nhỏ hẹp bị chia cắt bởi những những dòng sông, mà đa số bắt nguồn từ núi cao hoặc từ lãnh thổ nước Lào. Là chốn tụ cư lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số sinh sống dưới chân dãy Trường Sơn. Do vị trí địa lý và khí hậu tự nhiên khá phức tạp, nên người Kinh Việt đến đây lập nghiệp khá muộn, mặc dù mảnh đất này đã thuộc về Đại Việt gần bảy trăm năm trước. Để giúp bạn đọc có cái nhìn khách quan lịch sử về một giải đoạn, cũng như được rộng đường tham khảo thêm tư liệu của xứ Cam Lộ xưa; chúng tôi xin giới thiệu cuốn Cam Lộ Phủ chí (Bản chép tay của một viên quan làm việc ở phủ Cam Lộ. Bản này vốn quản thủ tại Quốc Sứ quán triều Nguyễn, sau nhiều biến động, thất lạc, hiện lưu tại Viện Hán Nôm, Hà Nội, ký hiệu A 98, gồm 12 trang cả bìa). Cam Lộ Phủ chí được viết vào khoảng niên hiệu Tự Đức thứ 5 (1852) hoặc sớm hơn một hai năm, do vậy mà nhiều địa danh hay nhân vật chí ngày nay ta thường gặp thì chưa thấy có trong tác phẩm này. Ở đây tác giả của nó mới phác họa những nét chính về việc sắp đặt, đổi tên đơn vị hành chính, phong tục tập quan cũng như phong thổ khí hậu, sản vật của phủ Cam Lộ (Bao gồm cả huyện Cam Lộ, huyện Hướng Hóa và một phần đất của tỉnh Xavanakhet – thuộc nước lào ngày nay). Mặc dù con sơ lược và hạn chế trong “tiểu mục chí”, chúng tôi vẫn có thể xem đây là một nguồn tài liệu vô cùng quý giá của đất Cam Lộ xưa.
Vì thời gian khuôn khổ của Tạp chí, chúng tôi mới đăng được bản dịch Việt ngữ; phần chữ Hán xin thưa chỉ giới thiệu thêm một tràn (10) chính bản để bạn đọc tham khảo. Nếu có điều kiện chúng tôi sẽ công bố nguyên bản chữ Hán ở những số tiếp sau.
Các thời vua trước đặt dinh Ai Lao, trong thời Gia Long đặc đạo Cam Lộ. Nguyên đạo Cam Lộ đặt tại làng Nghĩa An. Đến năm Minh Mạng thứ 9, xây dựng thành Vĩnh Ninh tại làng Cam Lộ; rồi sau đổi đạo Cam Lộ thành phủ Cam Lộ...

19/08/2023 lúc 16:57
Sau 60 năm trở về quê hương, tôi vẫn nhớ hình ảnh chợ Phiên Cam Lộ vang bóng một thời. Vào ngày mồng 3, mồng 8; 13, 18; 23, 28 âm lịch, chợ Phiên Cam Lộ tràn đầy hàng hoá với đủ loại nông sản, lâm sản, hải sản, đồ gia dụng với muôn hương, ngàn sắc từ khắp các vùng trong nước, ngoài nước đưa về. Đó là đường đen, đường phèn, đường cát, gạo nếp, trái cây, vàng mã từ Quảng Nam, Thừa Thiên- Huế đưa ra; đậu đen, đậu xanh, đậu ván, đậu phụng, cau trầu từ Gio Linh, Vĩnh Linh, Quảng Trị và đồ sắt, đồ đồng, đồ bạc từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đưa vào; mây song, nón lá, mật ong, trầm hương, heo, gà từ miền thượng du phía Tây chở xuống; tôm, cá, muối, mắm từ miền duyên hải Quảng Trị đưa lên; trâu, bò từ Lào và vải vóc, nhung lụa từ Hồng Công, Ma Cao đưa sang. Chợ Phiên Cam Lộ thời ấy sầm uất, trên bến dưới thuyền đông vui lắm. Đúng như mô tả của Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cuối thế kỷ 18.
Còn chợ Phiên Cam Lộ thời nay trông như cái chợ chiều, một cán bộ địa phương cho biết, trong quy hoạch mạng lưới thương mại- dịch vụ trọng điểm tỉnh Quảng Trị không đề cập đến chợ Phiên Cam Lộ. Trong quy hoạch mạng lưới vệ tinh của Trung tâm thương mại quốc tế Lao Bảo cũng chỉ nói tới thị xã Đông Hà, khu dịch vụ Ngã Tư Sòng… không nói tới chợ Phiên Cam Lộ. Tỉnh và huyện không có kế hoạch đầu tư phát triển chợ Phiên Cam Lộ thêm mà chỉ cho trùng tu sửa sang lại…

19/08/2023 lúc 16:57
N
ơi đụng đầu lịch sử này, với những địa danh, những tên người, tên núi, tên sông đã đi vào cõi tâm linh sâu thẳm của lòng người, không những hôm nay, ngày mai, mà con vọng mãi ngàn thu! Những tên tuổi của mảnh đất Quảng Trị lịch sử, không chỉ có sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, địa đạo Vịnh Mốc, mà con có huyện Hướng Hóa nơi địa đầu miền Tây giáp với bạn Lào cũng đã góp phần làm nên lịch sử quê hương Quảng Trị anh hùng. Còn đó với những địa danh Đường 9, Làng Vây, Tà Cơn, Khe Sanh… là những tên tuổi vang lừng theo năm tháng.
Thời gian chưa xa, nơi đây là bãi chiến trường tràn ngập máu lửa! Từ những gốc cây, ngọn cỏ, từ những dòng suối, đồi tranh… Còn ghi đạm những chứng tích tội ác của giặc Mỹ xâm lược; nhưng ở đó cũng viết lên những bản anh hùng ca bất tận…
Nhớ lại ngày ấy, trong vòng kềm kẹp khắc nghiệt của Mỹ - ngụy, ngày 331/8/1960 quân ta đã tiến công tiêu diệt vị trí Trại Cá, là trận mở đầu hoạt động vũ trang của quân dân Quảng Trị. Ta đã diệt gọn một tiểu đội của địch giữa ban ngày, giết chết tên đồn trưởng cùng một lũ ác ôn, thu toàn bộ vũ khí. Rồi đến trận tiêu diệt ấp Tuổi Mười mở đầu cho phong trào khởi nghĩa của quân dân huyện Hướng Hóa. Đến cuối năm 1960, các xã phí Nam huyện Hướng Hóa đồng loạt nổ dậy, khơi nghĩa giành chính quyền; 10 xã phía Nam Đường 9, cùng 5 thôn ở vùng Ba Lòng, Hải Phúc, nhân dân đã giải tán ngụy quyền của địch, xây dựng chính quyền cách mạng. Hướng Hóa đã trở thành hậu phương vững chắc của các mạng và hành lang nam bắc của cuộc kháng chiến, chi viện đắc lực cho các chiến trường miền Nam đánh Mỹ.
Cũng cần nhắc lại một vài sự kiện của quá khứ để minh chứng cuộc đối đầu khốc liệt của quân dân ta với đội quân xâm lược Mỹ, mà nơi đọ sức trực tiếp là quân dân huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị...

19/08/2023 lúc 16:57
X
uân năm 1973, trên báo Quân đội nhân dân số xuân Quý Sửu có đăng một vế đối, mời đối:
Pháo thủ pháo tầm xa, đánh địch gần, tay thủ thêm thủ pháo.
Người viết và ra “đề” là một người lính từng chiến đấu trên chiến trường, nên từng từ trong vế đối đều “dính dáng” đến hình ảnh người lính, súng đạn… Đặc biệt, với vỏn vẹn 13 từ trong một vế đối, đơn giản và kiệm từ, tác giả đã qua một tình huống tác chiến cụ thể xảy ra trong cuộc chiến, nhưng lại biểu đạt rất cô đọng và sắc sảo về một sự biến đổi đột biến trạng thái chiến tranh ở tầm chiến lược.
Tác giả đó là Liệt sĩ Nguyễn Tử Mạch (sinh: 1948, Quê ở xã Thọ Trường, Thọ Xuân, Thanh Hoá). Nhập ngũ năm 1966, năm 1972, khi đang là phóng viên báo Tiền Tuyến (Mặt trận B5), Nguyễn Tử Mạch xin được về trực tiếp chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 27 Xô Viết Nghệ Tĩnh (nay là Trung đoàn 27 - Triệu Hải) và đã hy sinh anh dũng tại Cam Lộ vào ngày 1/4/1972 - 1 ngày sau trận đánh mở màn chiến dịch giải phóng Quảng Trị của Trung đoàn 27 tại Cam Lộ (30/3/1972).
Trở lại câu chuyện vế mời đối của Nguyễn Tử Mạch. Do hồi ở đơn vị, thoảng khi có chút điều kiện, tôi vẫn viết đôi ba bài thơ gửi đăng trên “Văn nghệ Đường 9” nơi Nguyễn Tử Mạch từng là phóng viên. Biết và quý nhau qua chuyện chiến đấu, văn chương, chúng tôi vẫn thường liên lạc và thăm nhau khi có thể. Khoảng trung tuần tháng 3/1972, trên đường vào khu tứ giác (Cam Lộ) nhận nhiệm vụ chiến đấu, Mạch qua trạm phẫu thuật trung đoàn, nơi tôi điều trị vết thương để thăm. Một cuộc viếng thăm hối hả cho kịp bước người dẫn đường về đơn vị, Mạch đọc nhanh cho tôi nghe bài thơ “Tiểu đội” của anh, rồi khoe:
- Dương ơi, tớ vừa từ trung đoàn pháo về. Thấy cánh lính pháo lần này đang áp sát vào mặt trận không khác chi bộ binh, xem chừng chiến dịch này “to chuyện” đấy. Nhìn cánh lính pháo binh, tớ nảy ra được vế đối mới toanh, hiện còn “nóng hôi hổi, vừa thổi vừa đọc”. Dương cũng là tay chơi vế đối, thử đối cho vui...

19/08/2023 lúc 16:57
C
hiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng những ký ức về nó không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của người dân đất Việt. Để bây giờ, mỗi câu chuyện thời chiến tranh kể lại vẫn luôn mang đến cho chúng ta nhiều điều thật thiêng liêng, ý nghĩa. Câu chuyện tôi ghi lại sau đây cũng vậy, giống như cổ tích trong hàng triệu câu chuyện cổ tích mà dân tộc chúng ta đã viết nên từ lịch sử. Đó là cuộc hội ngộ của một người lính cụ Hồ từng chiến đấu trên quê hương Quảng Trị với đôi vợ chồng tại xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng...
Hơn 40 năm về trước, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc ta đang trong giai đoạn quyết liệt nhất, sự sống và cái chết luôn song hành trong mỗi bước chân hành quân của người lính chiến đấu vì quê hương đất nước. Năm 1968, anh bộ đội Nguyễn Đình Yên, 25 tuổi, quê ở Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh, thuộc trung đoàn 812, sư đoàn 324 đã tham gia chiến đấu tại chiến trường Hải Lăng. Trong một lần đi trinh sát vào ban đêm, anh rơi vào ổ phục kích và bị thương nặng. Anh được du kích xã Hải Vĩnh cõng vào trú ẩn ở một gia đình địa phương. Hải Vĩnh lúc này là vùng kháng chiến, nên Mỹ ngụy càn quét, truy lùng Việt cộng rất gắt gao. Vết thương nặng khiến anh Yên mê man bất tỉnh mấy giờ liền. Khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trên chiếc chõng tre, đầu kê lên một chiếc gối màu hồng trong căn nhà lụp xụp. Ở đó, có một đôi trai gái rất trẻ đang ngồi tỉ mỉ rửa nước muối lên vết thương cho anh. Những cơn đau liên hồi khiến anh Yên lúc tỉnh lúc mê nhưng vẫn kịp nghe những tiếng người con gái sụt sùi...

19/08/2023 lúc 16:57
Đ
ầu năm 2008, Chi hội văn học Thái Bình tổ chức cho anh chị em đi tham quan Làng Vây (Quảng Trị). Biết tay Ngọc Trung đã từng phục vụ cho chiến thắng Làng Vây năm nào, tôi hỏi và hắn kể:
Hồi ấy em là chiến sỹ lái xe của binh trạm 32, cung đường vận chuyển của chúng em là từ Lùm Bùm trên đất Triệu Voi tới nam Tha Mé rồi tắt qua Đường Chín bên Nam Lào để lập chân hàng cho mặt trận Khe Sanh ở bên kia sông Sê Pôn. Một trong những kỷ niệm của em là được đi cùng đội xe tăng do anh Phạm Văn Hai làm đại đội trưởng, lần đầu tiên ra quân của Binh chủng tăng – thiết giáp đã san phẳng căn cứ Làng Vây của Lục quân Mỹ.
Làng Vây là một làng của người Vân Kiều thuộc huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị nằm hai bên Đường Chín nằm giữa nhà tù Lao Bảo, nơi ra đời bài thơ “con cá chột nưa” nổi tiếng của Nhà thơ Tố Hữu; và thị trấn Khe Sanh, nơi diễn ra đòn cân não của Quân giải phóng với Lục quân Mỹ trong mùa khô 1967 - 1968. Năm ấy ta mới dùng một đại đội xe tăng để đánh vào Làng Vây. Tiếng súng mở màn cho chiến dịch Khe Sanh đã diễn ra vào ngày 13/1/1968 (tức 14 tháng Chạp âm lịch). Đại đội xe tăng từ Hậu phương lớn âm thầm đi theo một con đường bí mật dài gần 1.000 cây số rồi ém quân trên một khu rừng già ở thượng nguồn sông Sê Pôn; một con sông chảy ngược về nguồn, vắt qua dải Trường sơn hùng vĩ. Đoạn sông ở bản Ka Đáp này rộng chừng 300 mét...

19/08/2023 lúc 16:57
Q
ua cầu xe lửa, vắt qua sông Bến Hải, đến bờ Bắc, rẽ trái khoảng 500 mét là đến địa danh “Cây đa Bà chúa”. Nơi đây từng có mộ vọng Bà chúa. Bà là ai? Bà chúa, chủ nhân ngôi mộ vọng, là bà Ngô Thị Lâm.
Ngô Thị Lâm là thiếp của Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, người làng Thế Lại, gần cảng Thanh Hà. Bà Ngô Thị Lâm đã hy sinh vì chồng, ra sức giúp chồng trong buổi đầu khó khăn của xứ Thuận Hoá, nhưng rồi hậu vận của bà quá đỗi đa đoan!
Một thách thức to lớn đối với chúa Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn thủ Thuận Hoá là dân sở tại chưa một lòng theo nhà Lê trong giai đoạn trung hưng. Dẫu sao nhà Mạc cũng một thời kinh dinh Thuận Hoá, một bộ phận dân chúng và quan lại từng được hưởng bỗng lộc của nhà Mạc nên còn “hoài Mạc”. Có người Thuận Hoá còn hận các vua Lê Uy Mục, Lê Tương Dực vì người thân của họ từng chết thảm do lệnh của hai ông vua hiếu sát. Quân đội nhà Mạc thường vượt biển đánh vào Thuận Hoá. Vì thế chúa Nguyễn Hoàng cùng với cộng sự phải cố gắng rất lớn ở miền ác địa...

19/08/2023 lúc 16:57
N
gày xưa các bậc nhà nho thường chơi câu đối. Có thể tự viết cho mình, hoặc tặng bạn bè trong các dịp được thăng quan tiến chức, trong phúng điếu, mừng thọ, nhà chùa. Nói chung câu đối thường để ca tụng khen nhiều, chê ít. Mà thường phần chê là câu đối truyền miệng, ít khi viết trên giấy, trên vải.
Cũng có câu mang tính địa phương rõ rệt. Ví dụ ở Quảng Bình, các cụ lấy mỗi chữ trong các làng nổi tiếng ở quê ghép lại thành câu đối. Lúc này câu đối lại mang một dạng khác, nhưng vẫn gợi một ý tốt đẹp, tự hào về quê hương. Đó là câu:
Sơn, Hà, Cảnh, Thổ
Văn, Võ, Cổ, Kim
Đại ý là nói về núi sông, đất nước, và văn võ xưa nay- nói theo từ ngữ bây giờ là “làng văn hóa”...

19/08/2023 lúc 16:57
S
ắc phong cho các vị thần làng ở Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung, là một loại hình văn bản Hán Nôm quan trọng trong hệ thống các văn bản cổ được nhân dân vùng đất Quảng Trị từ thế hệ này sang thế hệ khác bảo vệ, tôn thờ và xem là một báu vật vô giá của các bậc tiền nhân trao lại. Hiện nay, các sắc phong đều được người dân làng xã gìn giữ, thờ cúng ở các ngôi đình, chùa, miếu, nhà thờ các họ tộc... của làng mình. Đây là những tài liệu quý lưu giữ phong tục, tập quán, tín ngưỡng thờ thần ở các làng cụ thể. Là mảng tư liệu quan trọng góp phần nghiên cứu tìm hiểu về mặt lịch sử - văn hoá truyền thống của vùng đất Quảng Trị.
Qua thực tế nghiên cứu, thì đến nay các tài liệu văn bản cổ kể cả sắc phong ở vùng đất Quảng Trị còn lại không nhiều. Bởi từ xưa, vùng đất này được coi là trọng trấn, trấn biên, là phên dậu phía Nam của tổ quốc; nơi đây các cuộc chiến tranh liên miên, ác liệt thường xuyên xảy ra. Hơn nữa, thiên nhiên khắc nghiệt nắng lắm với nạn hoả hoạn, mưa gió nhiều kèm theo bảo lụt thường xuyên đã góp một phần không nhỏ huỷ hoại tài sản, các công trình kiến trúc, nhiều cổ vật, tài liệu...

19/08/2023 lúc 16:57
X
e đang bon bon ra thị xã Đông Hà thì tay Đặng Hùng hỏi toáng lên: “Ngọc Trung đâu? Thiếu Ngọc Trung!”. Xe phanh khựng lại. Mọi người ngơ ngác. Đặng Hùng hất hàm về phía tôi. Hiểu ý, tôi nhảy theo cậu ta, xuống xe. Hùng dang tay. Một xe máy chạy ngược chiều với ô tô của chúng tôi phanh lại. Theo quán tính, anh lái ngả rạp người về phía trước. Hùng chỉ xe lên phía nghĩa trang Trường Sơn, anh gật gật. Tôi và Hùng nhẩy phóc lên xe anh. Xe lượn chênh chếch qua cua tay áo rồi vù lên đỉnh đồi. Tôi nhảy xuống trước, đưa anh lái hai mươi ngàn đồng tiền công, nhưng anh lái xe xua tay, quay xe lại ngã người cua theo ta- luy dương xuống đồi. Chúng tôi nhìn theo, ngầm cảm ơn người thanh niên quê lúa Thái Bình… Từ xa, chũng tôi đã thấy đôi bờ vai Trung đang nấc lên, tới gần thấy cậu ta đầm đìa nước mắt, hai mắt như vô thần găm vào dòng chữ: “Liệt sĩ Tạ Đình Luật…, hy sinh ngày 3/5/1971”… Chúng tôi lặng đi hồi lâu và rồi sau mấy lượt nhang khói, chúng tôi phải thuyết phục mãi Trung mới vỗ vỗ lên bia mộ, lầm rầm như nói với người dưới ấy: “Thôi, anh ở lại với đồng đội, với nhân dân Quảng Trị, thi thoảng về với u, với chúng em!”. Chúng tôi dìu Trung ra xe. Đây là chuyến đi thực tế của Chi hội Văn hoicj tình Thái Bình vào viếng các liệt sĩ tại nghĩa trang Trường Sơn...

19/08/2023 lúc 16:57
K
hông biết những người khác thế nào, chứ riêng tôi khi tuổi đã cao thường sống bằng kỷ niệm. Mà kỷ niệm khó quên nhất của tuổi già lại là thời thơ ấu. Kỷ niệm buồn cũng nhiều mà vui cũng không ít.
Lại thêm một đặc điểm nữa của tuổi già là những kỷ niệm ấy sôi trào lên khi những ngày lễ trọng đại của đất nước lại về, ngày mà lịch sử đã dành cho nó một vị trí không một ai có thể quên.
Ấy là mùa thu cách mạng lần thứ 5, tháng 8/1950 khi tôi đang là chú bé làm liên lạc viên ở Ban Tham mưu Trung đoàn 95 và được Trung đoàn cho đi học ở Trường Thiếu Sinh quân Liên khu 4.
Trường Thiếu Sinh quân liên khu 4 được thành lập vào ngày 6/1/1948 tại làng Bồ Hà - huyện Nông Cống (nay là huyện Triệu Sơn) tỉnh Thanh Hoá theo sáng kiến của Thiếu tướng Nguyễn Sơn và tập thể Bộ Tư lệnh Liên khu 4. Con em cán bộ quân đội từ cấp đại đội trở lên, con em cán bộ Dân Chính Đảng cấp tỉnh và các em thiếu nhi đang phục vụ trong quân đội được thu nhận vào trường. Tôi vào trường là theo tiêu chuẩn thứ ba này và được biên chế vào Trung đội 18, đại đội 5 với biển tên trên túi áo dạng hình thoi. Đó là biển đeo của các học viên ở cấp học thấp nhất của trường lúc đó...

19/08/2023 lúc 16:57
C
hủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, một Hồi tôi còn học lớp Đệ Nhất (tương đương với lớp 5 bây giờ) tại trường Tân Dân - Nam Đàn, một đêm lên Rú Dồi thuộc xã Nam Hùng xem Văn công Quân đội diễn. Tôi nhớ mãi có một nam diễn viên được giới thiệu là Lúa Xanh lên độc tấu. Anh nói giọng Huế trọ trẹ, nhẹ nhàng, trơn tru... thật dễ thương!. Sau mấy đêm xem diễn ở Rú Dồi tôi được nghe một cô gái thuộc loại hoa khôi của làng Bố Đức đã mê anh Lúa Xanh và quả quyết rằng: Lúa Xanh chính là nhà thơ Phùng Quán. Lớn lên, có dịp tôi thẩm tra lại thì đúng như vậy!
... Theo lời hẹn, khoảng 4 giờ chiều tôi tới chỗ anh làm việc, sau đó sẽ về nhà anh trọ ở làng Nghi Tàm nghỉ đêm. Từ dưới sân bước lên tam cấp nhìn sang trái là chỗ anh làm việc. Gọi là chỗ làm việc cho oai chứ ngoài chiếc bàn, chiếc ghế mộc ra thì chẳng còn cái gì. Hồi đó anh đang dính vào vụ “Nhân văn giai phẩm” ...

19/08/2023 lúc 16:57
Nếu vào đời Hán bên Trung Quốc, tại tỉnh Cam Túc có một quận mà nguồn nước chảy qua đấy mang hơi vị như rượu nên quận này thành danh là quận Tửu Tuyền (suối rượu), để...

19/08/2023 lúc 16:57
V
ào những ngày hè năm 2006, tôi được vào thực tế ở thôn Ro Ró, thuộc xã A Vao, huyện Đakrông. Đường vào thôn khoảng hơn hai giờ đồng hồ đi bộ mệt đến bở hơi tai, hai chân nặng trịch như không thể đứng được, tuy nhiên tôi quên hết mệt nhọc sau khi được tiếp xúc với mọi người nơi đây. Bằng một tình cảm đầy chân thành và mộc mạc của các Bố, các Mẹ, anh em bạn bè làm cho tôi cứ nghĩ là họ đã là người thân thiết lâu lắm rồi. Chỉ một tuần, tôi may mắn được sống cùng đồng bào, được các cụ, các anh các chị kể chuyện về cuộc sống sinh hoạt văn hoá dân gian ngày xưa và một số sinh hoạt còn được duy trì đến ngày nay. Tôi vô cùng xúc động khi được tận mắt nhìn thấy những chiếc Cồng, Chiêng, Thanh la, Trống còn rất cổ và thô sơ, được nghe những cụ già hát lên những âm điệu quen thuộc của đồng bào mình. Qua sự tiếp xúc vào trao đổi bản thân tôi nhận thấy một số đặc điểm về âm nhạc của họ mà trước đây tôi còn mơ hồ...
Hiện tại
26°
Mưa
13/02
25° - 27°
Mưa
14/02
24° - 26°
Mưa
15/02
23° - 26°
Mưa