
21/04/2025 lúc 08:57

28/01/2025 lúc 22:46
Có một vùng quê tôi chỉ đến đôi lần mà không hiểu tại sao trong lòng cứ thao thức mãi. Vùng quê ấy rừng núi trập trùng, bản làng thưa thớt, chưa có một nhà dân nào lợp bằng mái ngói. Con người ở đây bốn mùa khoai sắn thay cơm nhưng không hề kêu ca về số phận nghèo tại một miền rừng sâu heo hút. Đó là xã Vĩnh Khê, một xã miền núi phía tây huyện Vĩnh Linh.

28/01/2025 lúc 22:46
Cuộc họp ngày đầu tiên, tầm chiều tàn sớm. Chị đến tìm thầy trò tôi: “Anh Hai Tuân! Tội anh nặng lắm. Em vừa kiểm tra và xác minh “lý lịch” của anh qua Phan Chi, Chủ nhiệm bộ môn Sinh của trường. Bây giờ thầy trò anh lên xe, về nhà e ngay. Anh không nhận ra em, chứ em nhận ra anh sáng nay, lúc anh lên phát biểu ở hội trường. Cái giọng vừa pha Bắc Hà, vừa pha Quảng Trị, lẫn lộn sao được…”.

28/01/2025 lúc 22:46
Từ cảm nghĩ đến diễn đạt, Lê Thị Mây có một lối riêng và người đọc nhận ra nét độc đáo đáng quý ở thơ chị, có thể coi là một đóng góp tích cực cho nền thơ bây giờ, đó là cách cảm nghĩ thiên và khái quát và diễn đạt thiên về ấn tượng với nhiều biểu tượng đa diện. Lối thơ này không phải là sở trường của thơ Việt Nam truyền thống, có lẽ vì thế bạn đọc tiếp nhận thơ Lê Thị Mây còn dè dặt.

28/01/2025 lúc 22:46
M
ột đêm cuối thu năm 1952, bầu trời thấp hẳn xuống tối như bưng, những hạt mưa phùn cuốn theo gió mùa giá lạnh. Năm ấy tôi 13 tuổi làm liên lạc cùng tổ trinh sát trung đoàn 95 thuộc mặt trận BTT, từ chiến khu Ba Lòng về đồng bằng chuẩn bị chiến trường. Nhiệm vụ được giao từ hôm trước, chúng tôi được trọn 1 ngày chuẩn bị.

28/01/2025 lúc 22:46
1
. ĐƯỜNG VÀO MẶT TRẬN
Anh vào miền Nam bằng con đường nào?
Đã có vô số anh bộ đội, cô thanh niên xung phong trả lời: Đường Trường Sơn – Đường 559, mà các ký giả phương Tây, các chính khách, kể cả các chiến lược gia Hoa Kỳ gọi là “Đường Hồ Chí Minh”.

28/01/2025 lúc 22:46
Khi chiếc xe thuyền nan còn cháy khát trên mặt biển khơi xa, khi vùng đất này còn có những bóng tre làng biển và những cánh tay trần vạm vỡ của trai làng đẩy thuyền xe sóng ra khơi để câu con nục, con chuồn lấy cái ăn cho những ngày đầu khai cơ lập nghiệp thì vùng đất này đã có từ lâu rồi.

28/01/2025 lúc 22:46
Có người, tình cảm quê hương bắt nguồn từ lúc leo trèo hái những chùm khế ngọt. Có người yêu quê hương qua những buổi trốn học đi bắt bướm cạnh bờ ao "mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc", rồi nhớ luôn nhà cô bé nhà bên nhìn thấy, cười khúc kha khúc khích.

28/01/2025 lúc 22:46
C
hiều hè năm 1972, mặt trời về cuối ngày, treo trên bụi tre biển thôn Tường Vân đỏ như một quả gấc lớn. Nước Cửa Việt ngấn lên một màu tím hoa muống biển. Hai mươi năm xa quê nay mới được đặt chân trở lại trên bãi cát thôn Hà Tây và Phú Hội xã Triệu An, gợi nhớ câu hò năm ấy.

28/01/2025 lúc 22:46
T
ôi có vài ba lần được “tháp tùng” các đoàn khách các tỉnh bạn Lào như Khăm Muộn, Xalanvan, Xavanakhet về thăm Quảng Trị. Bởi thói quen quan sát của nghề nghiệp làm báo nên nhiều khi đâm ra… bất lịch sự. Song cũng vì vậy mà trong cái thằng tôi hay lãng mạn đôi lúc chợt ao ước trở thành nhà kinh doanh. Đấy là một lần theo đoàn của ông Bunnhăng Voolachit, Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Tỉnh trưởng Xavanakhet, lúc chiêu đãi tại khách sạn Đông Trường Sơn, ngồi cùng tôi là anh chàng cầm Camera của đoàn bạn.

28/01/2025 lúc 22:46
Xin được bắt đầu bằng một làng quê nghèo: Làng Tân Phổ, mảnh làng nhỏ nằm ven sông bắc Thạch Hãn thuộc xã Triệu Ái - Triệu Phong, anh Minh Đức một đứa con của vùng quê khó nghèo này qua những năm tháng đi tập kết chia xa khi trở về thăm quê hương sau ngày giải phóng (1972) đã ghi đậm vào trang nhật ký bằng những lời thơ mộc mạc đầy chất bi hùng.

28/01/2025 lúc 22:46
Rất chu đáo, anh Chí chỉ dẫn cho tôi vị trí những ngôi làng và lý thú hơn cách xác định phương hướng của người dân vùng bãi Ngang. Tôi chú ý anh dùng chữ phía, phía trước và phía sau rất lạ. Với ngư dân bãi Ngang, trước mặt của mình bao giờ cũng là biển, biển cả mênh mông. Những ngôi nhà tách biệt như anh Chí đây có thể quay mặt đi khắp các hướng nhưng có ngôi nhà chung vô hình của làng biển bao giờ cũng lấy biển cả mênh mông phía trước làm hướng mặt tiền. Chả lẽ đã có một nền “văn hoá mặt tiền” ẩn khuất trước khi có nền “văn minh mặt tiền” ồn ào

28/01/2025 lúc 22:46
Chọn lựa mãi rồi thì tôi cũng đành mạn phép nhà văn G.Amađô mượn tạm nhan đề một cuốn tiểu thuyết của ông để gọi cùng Khe Sanh. Không lộng ngôn chút nào đâu, vâng, Khe Sanh miền đất quả vàng mà thiên nhiên đã ân từ cho miền đất nghèo Quảng Trị. Khe Sanh một bền đồi, một bù đắp, một nồng ấm bazan giữa bời bời cát trắng, chút dịu dàng lãng mạn giữa ngun ngút gió Lào. Khe Sanh của mù sương bồng bềnh huyền ảo tháng năm và lộng lẫy sắc xanh cây trái. Và không chỉ có thế…

28/01/2025 lúc 22:46
Một chiều tháng bảy nắng như thiêu và gió Lào như bão. Tôi gặp trung tá Trần Đình Dũng chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng Quảng Trị vừa lúc anh vừa mới từ Hà Nội vào.

28/01/2025 lúc 22:46
Trước ngày khởi công chợ ít hôm, công nhân đang rào dựng mặt bằng thi công, đã bắt gặp những kỷ vật. Khi nạo vét bùn bãi bồi, họ đã vứt lên hai chiếc mũ chiến sĩ, còn nguyên sao vàng năm cánh. Các anh những người con giữ nước, hồn sông Hiếu bấy lâu ấp ủ những kỷ vật chừng như không muốn để khuất vùi cùng với kiểu hạng ủng nhà binh Hoa Kỳ bại trận. Nguồn Hiếu ơi, những chiếc mũ sông đưa về từ đâu? Câu hỏi thắt buộc về từ trái tim!.

28/01/2025 lúc 22:46
Có vị khách đầu tiên đến Đông Trường, tận mắt thấy điều kiện canh tác và cuộc sống của bà con ở đây đã phát hiện cảm tưởng:“Đông Trường là cái rốn nghèo của tỉnh Quảng Trị”. Nói thế e hơi quá, nhưng nếu nói Đông Trường nghèo nhất huyện Vĩnh Linh e không sai. Khi còn cơ chế bao cấp, cái đói đã thường trực trong nhiều hộ gia đình. Ngay như ông Nguyễn Tư, một đảng viên gương mẫu, một lão nông tri điền và là đội trưởng sản xuất đội II, lúc nào cũng hết lòng với công việc tập thể, thế mà sau mỗi buổi đi cày cho đội, ông thường bòn nhặt những mẫu sắn còn sót lại đem về hầm kỹ như hầm xương cho hết đắng rồi vợ chồng xì xụp với bát canh lá khoai lang, lúc nào cũng thèm cơm như con nhà khá giả lúc nào cũng thèm cao lương mỹ vị.

28/01/2025 lúc 22:46
Con đường thơ của Chế Lan Viên kéo dài 54 năm và đã khép lại nhưng không có nghĩa là kết thúc. Nó vẫn tiếp tục toả phát, đồng hành cùng thi ca dân tộc. Trong từng giai đoạn, Chế Lan Viên luôn năng động trong tư duy, luôn nghĩ về nghề, nghĩ về thơ để tìm cho mình một quan niệm, một tuyên ngôn riêng. Những quan niệm nghệ thuật của ông thể hiện rõ kiểu “tư duy triết học biện chứng” có phủ định, kế thừa và sáng tạo mới cho phù hợp với tinh thần thời đại và quy luật nội tại của thi ca.
Sự phức tạp trong tư duy và quan niệm về thơ của Chế Lan Viên chính là một nghịch lý hợp lý, chứng tỏ ông là một thi sĩ có tài, chưa bao giờ tự bằng lòng, thoả mãn với những gì đã có. Ông luôn tìm tòi, thể nghiệm để khẳng định cái mới thực sự có ý nghĩa đối với nền thơ Việt hiện đại cả lý luận và thực tiễn.
ĐIỀU TÀN: MỘT NIỀM KINH DỊ, MỘT QUAN NIỆM THƠ
Trong phong trào thơ mới 1932-1945, Chế Lan Viên là thi sĩ trẻ, xuất hiện muộn nhưng họ mang về hào quang lạ mà Hoài Thanh phải ngỡ ngàng thốt lên: “Quyển Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”. Niềm kinh dị này khởi nguồn từ một quan niệm, một hoàn cảnh riêng tạo nên sự lạ lùng mà sau này ông và Hàn Mặc Tử lấy làm tuyên ngôn và cương lĩnh nghệ thuật cho “Trường thơ Loạn” do mình sáng lập. Chế Lan Viên viết: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ tức là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là người. Nó là người mơ, người say, người điên. Nó là tiên, là ma, là quỹ, là tinh, là yêu. Nó thoát hiện tại. Nó xối trộn dĩ vãng. Nó ôm trùm tương lai. Người ta khong hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý…”
Cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng của Chế Lan Viên thời này đã rõ. Hoàn cảnh đất nước bị nô lệ. Ông sống trên đất cũ của vương quốc Chiêm Thành. Lúng túng trong tư tưởng và hành động buộc ông phải đến với tôn giáo. Lúc đầu là Phật, sau là Thiên chúa. Màu sắc siêu hình, hư vô của Điêu tàn chính là xuất phát từ cơ sở này. Về phương diện thi ca mà nói, Chế Lan Viên đã đi tìm và sáng tạo nên nét dị thường, khác với không khí tình yêu, mơ mộng của các thi sĩ cùng thời. Hình ảnh trong Điêu tàn là cả một thế giới rùng rợn: đầu lâu, sọ dừa, hồn ma, quỹ dữ… Qua các hình ảnh ấy, ông trải lòng và cảm xúc của mình trước niềm đau đã trở thành tro bụi của nước non Hời.
Tạo hoá hỡi ! Trả tôi về Chiêm quốc
Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian
Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chán mắt
Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn
Nỗi đau của nước non Chiêm cũng là nỗi đau của nuớc non mình. “Điêu tàn có riêng gì cho nước non Chiêm Thành yêu mến của tôi đâu? Kìa, kìa, nó đang đục sọ dừa anh. Tiếng xương rạn vỡ dội thấu đáy hồn tôi”. Nỗi chán đời tuyệt vọng hơi quá đáng biểu hiện bằng những hình ảnh kinh hãi nhưng đó cũng là một thái độ phản ứng với sự nhàm tẻ của thực tại. Người thơ trẻ tuổi Chế Lan Viên biết bấu víu vào đâu? Chính mảnh đất siêu hình kia là nơi thuận lợi nhất để tác giả gửi gắm tâm sự, bằng cách làm sống lại quá khứ nước Chàm qua hư cấu, tưởng tượng kỳ lạ “để nếm lại cả một thời xưa cũ – Cả một dòng năm tháng đã trôi qua”. Đó là cách để giải thoát. Giải thoát mà vẫn đau đáu về cuộc đời. Đó là trạng thái lưỡng phân của Chế Lan Viên. Và may thay, nó biến thành nghệ thuật, thành một quan niệm mỹ học. Điều cần lưu ý ở Điêu tàn để làm tiền đề cho việc nghiên cứu thơ Chế Lan Viên ở các giai đoạn sau, đó là việc thiết lập mối quan hệ có tính sinh tử của nghệ thuật. Mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ. Hai câu hỏi: “Ta là ai? Ta vì ai? Sau này của ông chính là xuất phát từ tiền đề này. Cho nên Điêu tàn tuy rùng rợn, siêu hình nhưng thật ra là biện chứng. Nói quá khứ cũng là cách để khẳng định hiện tại và mơ ước đến tương lai.
Vậy quan điểm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong Điêu tàn, đặt trong mối quan hệ chủ thể - khách thể là gì? Đó là một chủ thể quái đản, cực đoan, thần bí và một khách thể tưởng tượng, hư cấu, siêu hình. Không xem đây là một quan niệm nghệ thuật, chúng ta sẽ không thể lý giải được sự chuyển biến quan niệm của Chế Lan Viên ở các giai đoạn sau. Hoài Thanh từng ca ngợi Điêu tàn là “một niềm kinh dị” thì rõ ràng nó đã là tác phẩm quý giá. “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam nửa thế kỷ 20, nó đứng sừng sững như một cái tháp chàm, chắc chắn, lẻ loi và bí mật”.
Khi cuộc sống thay đổi, quan niệm thơ của Chế Lan Viên cũng thay đổi theo. Và dưới ánh sáng văn nghệ mới của Đảng, những quan niệm về thơ của ông có dịp khẳng định tính độc đáo, mới mẻ của mình.
TỪ VÀNG SAO HƯ VÔ ĐẾN SAO VÀNG CÁCH MẠNG
Từ 1945 đến 1975 là thời kỳ sôi động nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam. Những biến đổi lớn lao về nhiều mặt diễn ra trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Thơ ca cũng có những biến đổi, định hướng triệt để chưa từng có trong lịch sử văn học. Chế Lan Viên là một trong những thi sĩ tiên phong trong lĩnh vực này với hững quan niệm thơ mới mẻ, độc đáo. Ngoài những đặc điểm thuộc tínhchung của văn học thời này, ta vẫn thấy được quan niệm nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ, hệ thống thi pháp riêng của từng tác giả. Chế Lan Viên thể hiện hành trình tìm kiếm này một cách quằn quại, day dứt nhất sau nhiều lúng túng buổi đầu. Gửi các anh là tập thơ bản lề còn nhiều hạn chế nhưng có ý nghĩa về mặt nhận đường trong văn chương của chính ông.
Đến Ánh sáng và phù sa (1966), Chế Lan Viên thực sự có bước chuyển biến bất ngờ với mối quan niệm mới, đánh dấu sự cách tân quan trọng không chỉ riêng ông mà còn cho cả nền thơ Việt hiện đại. Sau này, trong các tập thơ Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), cả các tập được in sau 1975 nhưng chủ yếu sáng tác trước 1975 như Hoa trước lăng Người (1976), Ngày vĩ đại (1975), Hái theo mùa (1977) đều thống nhất một cảm hứng, một quan niệm đã có từ Ánh sáng và phù sa.Thơ phải gắn với cuộc sống, Nhân dân, với lý tưởng cách mạng và Đảng. Đó là sự chuyển biến dứt khoát, mãnh liệt của ông để chuyển từ siêu hình, bế tắc sang thơ ca hiện đại, cách mạng. Hai câu hỏi như một tuyên ngôn nghệ thuật.
Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
Ta vì ai? Sẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay người thắp lại trịêu chồi xuân
Đó chính là quá trình vật vã, day dứt để tìm cách thể hiện mới cho thơ của một nghệ sĩ “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”, “từ chân trời một người đến chân trời tất cả”. Đây cũng là quá trình chung của nhiều nghệ sĩ khác nhưng ở Chế lan viên bức bách, quyết liệt hơn cả. Bài “Nghĩ về thơ” chính là triển khai cụ thể quan niệm trên bằng thơ một cách tập trung. Đến “Nghoảnh lại mười lăm năm”, “Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ …” thì những quan niệm trên đã sáng rõ. Nhân cách công dân- Nghệ sĩ của Chế lan Viên cũng hình thành, đủ sức định hướng nghệ thuật cho hành trình dài về sau”Ánh sáng soi rọi tôi và phù sa bồi đắp tôi. Ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lý tưởng tôi” trở thành cảm hứng chủ đạo của Chế Lan viên trong giai đoạn này. Mối quan hệ chủ thể - khách thể, vì vậy càng triệt để, hiệu quả hơn.
Con gặp lại Nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
“Nội dung mang tính quan niệm, mang tính hình thức” cũng được Chế Lan Viên đề ra từ rất sớm “Hình thức cũng là vũ khí - Sắc đẹp của câu thơ cũng đấu tranh cho chân lý”. Thơ phải bao chứa tất cả hiện thực lớn lao của cuộc sống cách mạng, của lịch sử. Đây là một quan niệm phù hợp với nền thơ cách mạng.
Thơ cần có ích
Hãy bắt đầu từ nơi ấy mà đi
“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”, “Những bài thơ đánh giặc”, “Thời sự hè 72 - Bình luận”, “Văn xuôi về một vùng thơ”, “Thơ bình phương, đời lập phương”… đã tiến xa thêm một bước thể hiện sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, dù có lúc “Cái tinh tuý cỏ hoa tạm thời chưa nghĩ đến”. Quan niệm về hình thức được Chế Lan Viên đề ra nghiêm ngặt, coi đây là một phẩm chất quan trọng trong việc chuyển tải nội dung. Và hình thức, theo ông, cũng không phải nhất thành bất biến mà vô cùng phong phú “Nội dung bể phải đâu muôn đời vẫn thế -Thay hình thức của thuyền đi sẽ hiểu bể thêm mà”.
Những lá thơm hái lúc về già
Hái những lá có hương tư tưởng
Khi cây đã hoá trầm trong ruột
Lá đủ rồi, phải đợi gì hoa
Sự thống nhất hình thức – nội dung này lại được đạt trong mối quan hệ có tính cấp thiết nữa. Đó là: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc và quốc tế; giữa truyền thống và cách tân với những phẩm chất đích thực “ta nối liền ta trong bề dọc thời gian – Câu thơ thế kỷ 20 liền hơi với hồn cha ông trong truyện Kiều, Chinh phụ”.
Đó là những quan niệm nghệ thuật quán xuyến của Chế lan Viên trong suốt thời gian dài, kể cả sau 1975.
NHỮNG LÁ THƠM HÁI LÚC VỀ GIÀ
Căn cứ ở quan niệm thơ và thực tiễn sáng tác, từ 1975 đến cuối đời, có thể coi là chặng hành trình thứ ba của cuộc đời nghệ thuật Chế Lan Viên. Đặc biệt với Di cảo thơ (3 tập), Chế Lan Viên đã làm cho chúng ta kinh ngạc, khâm phục không chỉ ở số lượng tác phẩm mà còn là những quan niệm nghệ thuật mới, thoạt nhìn tưởng như trái ngược với trước đó.
Sự đa dạng trong bút pháp, đề tài, chủ đề được ông hướng về nhều lối rẽ khác nhau là điều dễ thấy của thơ ông giai đoạn này. Thế sự - đời tư – đạo đức được tăng cường. Chất trí tuệ càng cô đúc và có những khái quát nghệ thuật bất ngờ. Tập “hoa trên đá” (1984) tuy còn giữ giọng điệu cũ ở nhiều bài nhưng nhìn chung, nhu cầu ca hát về mình, những riêng tư gắn với việc triết luận về cuộc sống đã thành nội dung chủ đạo, phù hợp với sở trường của ông. Đến “Ta gửi cho mình” (1986) và “Di cảo thơ”(3 tập 1992, 1993, 1996), Chế Lan Viên nghiêng hẵn về nội dung Đời tư- Thế sự - đạo đức. “Cái tinh tuý cỏ hoa” giờ đây được tăng cường như một nhu cầu bù đắp. Mối quan hệ giữa chủ thể-khách thể đã có sự vận động. Chế Lan Viên luôn triết lý, tổng kết về những vấn đề có liên quan đến con người cá nhân, những quy luật vĩnh hằng của cuộc sống…
Bỏ những tấm lòng đã yên đã cũ
Mở những hồn thơ, chưa thấy, chưa trông
Từ giọng cao của giai đoạn trước, ông chuyển sang giọng trầm và bắt nhịp một cách tinh tế. Bài Đề tài, Trong hồn … nói lên những quan niệm mới. Sống chết; Lao động sáng tạo; Thời gian sống đời người, Thời gian vĩnh hằng… được tác giả chiêm nghiệm đến cạn kiệt và thể hiện bằng thơ trong trạng thái bệnh tật, già yếu nên có pha chút xa xót, tủi buồn. Nỗi xa xót, tủi buồn, luyến tiếc của một người sắp xa trần thế để về xứ không màu. Đó cũng là thái độ, lòng khao khát yêu đời, mong thơ ca mình luôn có ích.
Chế Lan Viên da diết đi tìm Cái đẹp bằng cách soi vào chính mình, tìm ra các mặt phân hoá, đối lập, tạo ra những phủ định của phủ định. Thơ ông mang nỗi đau triết học. Và bên sau nỗi đau ấy, cái mới hiện hình
Anh là tháp Bay - on bốn mặt
Giấu đi ba còn lại đó là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình
Ở giai đoạn cuối đời, Chế Lan viên cũng có những thay đổi về hình thức. Ông nghĩ nhiều về một phương thức biểu hiện mới cho thơ. Ông tiết kiệm hơn, chuộng ngắn mà tinh.
Nhân loại đi xa chớ có vẽ bày
Từ ngữ kềnh càng văn chương vô lối
Cả đời anh, anh thu nhỏ lại
Chỉ còn cái lõi
Cho nhân loại mang cùng, nhân loại cầm tay
Chính “cái lõi’ ấy mà suốt đời Chế Lan Viên cần mẫn đi tìm và thấy mình có lỗi với thi ca. “Thơ thế kỷ 21 mà – làm sao có thể hồn nhiên - Sau hai nghìn năm tìm tòi, phá phách”. Ông nhìn cuộc đời vẫn bằng tấm lòng nhân hậu và thiết tha mong nền thi ca dân tộc tiến lên bằng nhiều phong cách lạ
Khi anh gần chạng vạng
Thì có người bình minh
Đừng lấy hoàng hôn anh ngăn cản
Ban mai của họ sinh thành
Dĩ nhiên, quan niệm thi ca của Chế Lan Viên có mặt này, mặt khác, thoạt nhìn tưởng mâu thuẫn nhau. Và thực tế có nhiều cách hiểu, đánh giá khác nhau về những bài thơ cuối đời của Chế Lan viên. Thực ra, vấn đề không đến nỗi phức tạp như thế. Sự phong phú, khó nhận biết ở thơ ông chính là những mâu thuẫn, những nghịch lý hợp lý biện chứng của một tư duy triết học, được thể hiện bằng ngôn ngữ thơ đa dạng, bằng hình ảnh và các phương thức tu từ đặc sắc nên tạo ra nhiều nghĩa, nhiều lớp liên tưởng trong người đọc. Điều này làm cho quá trình đánh giá về thơ cũng như về quan niệm thơ của Chế Lan Viên trở nên cấp thiết và có ý nghĩa về lý luận thực tiễn sáng tạo.
Đông Hà,16.8.1997
H.T.H.

28/01/2025 lúc 22:46
Tôi hiểu lòng anh – một người lính đã từng uống nước Do Linh, ăn sắn Cam Lộ, từng ôm súng đánh giặc trên mảnh đất bom đạn tơi bời này thì hơn hai mươi năm dằng dặc chưa có dịp trở lại chiến trường xưa là sự day dứt trăn trở không dễ gì khoả lấp được. Giữa dòng chảy ào ạt của cuộc sống, những người lính trải qua thời máu lửa dù phải bươn bả nuôi con ăn học vẫn có lúc đi ngược thời gian trở về với đồng đội của mình đã từng sống chết…

28/01/2025 lúc 22:46
Hàng chục năm về trước, tôi đã từng nghe kể đâu đó có một đơn vị chuyên huấn luyện chim bồ câu đưa thư. Những bức thư ấy chứa đựng nhiều chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên được truyền đạt kịp thời, chính xác, góp phần làm nên chiến thắng. Quân giỏi, hẳn tướng phải tài! Vậy thì những huấn luyện viên là người lính trực tiếp làm bạn tri kỷ với các chú bồ câu xinh xắn, thông minh ấy chắc có gì bí quyết chăng? Những câu hỏi tương tự cứ đeo đẳng cùng tôi qua tới hai ba cuộc chiến.
Hiện tại
26°
Mưa
22/04
25° - 27°
Mưa
23/04
24° - 26°
Mưa
24/04
23° - 26°
Mưa